vanban.org

Bản án 97/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 26/12/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn K phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Triệu Văn K 30 (ba mươi) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/9/2019. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,800 gam chất ma túy loại Heroin còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có 01 vỏ bì niêm ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Văn K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn K phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2019/HS-ST
Ngày 26-12-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Hồng Nam;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Ngư;

2. Bà Vũ Thị Hương Giang.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Miền - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/2019/TLST - HS, ngày 26 tháng 11 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2019/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 12 năm 2019, đối với bị cáo:

Triệu Văn K, sinh ngày 28 tháng 5 năm 1990 tại xã Phủ L, huyện Phú L, tỉnh Thái Nguyên; Nơi cư trú: Xóm Bản E, xã Phủ L, huyện Phú L, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn Th, sinh năm 1966 và bà Hà Thị X, sinh năm 1973; có vợ là Dương Thị N, sinh năm 1990 (đã ly hôn năm 2019); có 01 con sinh năm 2012;

Tiền án: Tại bản án số 13/2017/HSST ngày 17/01/2017 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Triệu Văn K 36 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 07/04/2019 bị cáo chấp hành xong hình phạt.

Tiền sự: Không

Nhân thân: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0027084/QĐ-XPHC ngày 19/5/2016 Công an thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Triệu Văn K, số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác. Ngày 31/05/2016, Triệu Văn K đã nộp phạt xong.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/09/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phú L, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Lê Đức Th, sinh năm 1962;

Nơi cư trú: Xóm Bản E, xã Phủ L, huyện Phú L, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 30 phút ngày 19/09/2019, tại xóm Bản E, xã Phủ L, huyện Phú L, Thái Nguyên, Công an huyện Phú L phối hợp với Công an xã Phủ L, huyện Phú L phát hiện, bắt quả tang Triệu Văn K có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”. Thu giữ trong túi quần bên trái của K đang mặc có 01 túi nilon màu trắng, bên trong túi nilon có 18 gói chất bột màu trắng nghi là chất ma túy. K khai là chất ma túy loại Heroine tàng trữ để sử dụng, tổ công tác đã tiến hành thu giữ, niêm phong theo quy định, kí hiệu K1.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú L đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật, tài liệu đối với Triệu Văn K theo Lệnh khám xét khẩn cấp số 61 ngày 19/09/2019, kết quả không phát hiện thu giữ gì.

Hồi 14 giờ 15 phút cùng ngày, tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành mở bì niêm phong kí hiệu K1, để cân xác định trọng lượng và lấy mẫu giám định thu được kết quả: Toàn bộ 18 gói chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu K1 có khối lượng 0,842 gam, lấy toàn bộ 0,842 gam chất bột màu trắng niêm phong vào phong bì ký hiệu A1 gửi giám định tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên.

Tại kết luận giám định số 1318/KL – KTHS ngày 27/09/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 thu giữ của Triệu Văn K gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,842 gam.

Quá trình điều tra Triệu Văn K khai nhận ngày 18/9/2019 Kế đi xe buýt xuống bến xe khách Thái Nguyên (cũ) gặp và mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi (bị cáo không biết tên, địa chỉ) 01 gói heroine giá 1.800.000 đ. Khi về đến nhà K đã chia nhỏ số ma túy thành 18 gói, phần còn lại bị cáo đã sử dụng hết bằng hình thức hít. Sau khi chia ma túy xong K cho toàn bộ 18 gói ma tuy vào bên trong 01 túi nilon màu trắng và cất giấu vào túi quần bên trái mục đích để bản thân sử dụng dần. Đến khoảng 09 giờ ngày 19/9/2019 bị cáo từ nhà đi bộ vào xóm chơi, khi đang đi bộ trên đường thì bị cơ quan công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật có liên quan.

Bản Cáo trạng số 93/CT-VKSPL, ngày 26/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú L, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Triệu Văn K về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội giữ nguyên quan điểm như đã truy tố trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về tội danh: Tuyên bố Triệu Văn K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

* Về căn cứ áp dụng điều luật và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106; 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử phạt Triệu Văn K từ 24 đến 30 tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2019.

* Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người nghiện, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,800 gam chất ma túy loại Heroin còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu K1, túi nilon màu trắng và các vỏ giấy gói.

* Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú L, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú L, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh, điều luật truy tố: Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 09 giờ 30 phút ngày 19/09/2019, tại khu vực thuộc xóm Bản E, xã Phủ L, huyện Phú L, tỉnh Thái Nguyên, Triệu Văn K đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,842 gam chất ma túy là Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Khối lượng Heroin bị cáo tàng trữ có khối lượng trên 0,1gam quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng do bản thân là người nghiện ma túy nên cố ý thực hiện.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, điều luật quy định:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán ,vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…

c, Heroine…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo phải chịu tình 01 tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt áp dụng: Căn cứ vào nhân thân, tính chất của vụ án và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có nhân thân xấu, thể hiện ở việc bị cáo có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” bị cáo chưa được xóa án tích, vừa chấp hành xong hình phạt vào tháng 4/2019 trở về địa phương một thời gian ngắn thì lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Xét mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng cần phải áp dụng hình phạt cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Mục đích tàng trữ ma túy của bị cáo để sử dụng cho bản thân, bị cáo là người nghiện ma túy, nên việc áp dụng hình phạt tiền bổ sung không có tính khả thi, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai đã mua ma túy của một người nam giới khoảng 40 tuổi bị cáo không biết tên và địa chỉ ở khu vực bến xe cũ của thành phố Thái Nguyên nên không có cơ sở để xử lý.

Về vật chứng: Khối lượng Heroine còn lại khi thu giữ của bị cáo sau khi đã trích một phần để giám định, thuộc danh mục chất gây nghiện, Nhà nước cấm sử dụng, lưu hành, mua bán; các vỏ bì niêm phong và giấy gói không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác là phù hợp, cần chấp nhận.

Về án phí: Theo quy định của Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25 ngày 11 năm 2015, Điều 136 BLTTHS, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội kèm theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo đã phạm tội nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106; 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn K phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Triệu Văn K 30 (ba mươi) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/9/2019.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo Triệu Văn K 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,800 gam chất ma túy loại Heroin còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu K1, túi nilon màu trắng và các vỏ giấy gói.

(Tình trạng, đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện Phú L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú L lập ngày 06/12/2019).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Triệu Văn K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ