- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trường Gi - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trường Gi.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CM ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2019/HS-PT Ngày 24 - 7 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Hoàng
Các Thẩm phán:
Ông Chung Văn Kết
Ông Trần Trọng Nhân
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Mil là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh CM.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh CM tham gia phiên tòa: Bà Lê Kiều Diễm- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh CM xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 91/2019/TLPT-HS ngày 14 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Trường Gi do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số:79/2019/HS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố CM.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên Nguyễn Trường Gi - Sinh năm 1987; Hộ khẩu thường trú: Ấp TV A, xã THT, huyện TP, tỉnh CM; Chỗ ở hiện nay: Ấp TV A, xã THT, huyện TP, tỉnh CM. Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: N; Quốc tịch: Việt N; Con ông: Nguyễn Hồng Khanh và bà Nguyễn Thị Hoa; Vợ: Tô Kim Vàng, Con: chưa có; Tiền án;Tiền sự: Không; Cấm khỏi nơi cư trú ngày 04/12/2018 đến nay (Bị cáo tại ngoại có mặt).
- Những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo hoặc liên quan đến kháng cáo:
*Bị hại: Ông Nguyễn Văn T – Sinh năm 1964 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Tú Ng – sinh năm 1972 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp BĐ, xã LVL, thành phố CM, tỉnh CM.
* Bị đơn dân sự: Ông Trần Hoàng N – sinh năm 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp TV A, xã THT, huyện TP, tỉnh CM.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/Cháu Nguyễn Lê T Anh – sinh ngày 19/8/2007 (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của cháu T Anh: Bà Lê Hồng H – sinh năm 1977 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp AL, xã ABT, huyện BT, tỉnh BT.
2/ Ông Trần Quốc T – Sinh năm 1974 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Thọ Mai, xã PM, huyện TP, tỉnh CM.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 07/11/2018, anh Trần Quốc T mượn xe ô tô 69A-041.39 của anh Trần Hoàng N và thuê Nguyễn Trường Gi chở gia đình đi đám ở thành phố Hồ Chí Minh bằng xe ô tô biển số 69A-041.39. Gi có giấy phép lái xe hạng B2 nên đồng ý lái thuê cho anh T, tiền công khi nào về sẽ tính. Sau khi đi đám, đến khoảng 23 giờ 47 phút cùng ngày về tới CM. Khi đi đến đoạn đường Quảng lộ Phụng Hiệp, thì Nguyễn Trường Gi điều khiển xe ô tô 69A-041.39 cho xe chuyển sang làn đường bên phải khi chưa đảm bảo an toàn và không mở đèn tín hiệu dẫn đến va chạm vào xe mô tô 69E1-311.52 do Nguyễn Văn T đi cùng chiều bên phải gây ra tai nạn giao thông, hậu quả làm cho Nguyễn Văn T bị thương, được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh CM điều trị, sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa Trung Ương Cần Thơ, đến khoảng 17 giờ 50 phút ngày 08/11/2018, T tử vong.
Tại biên bản khám hiện trường lúc 00 giờ 05 phút ngày 08/11/2018 tại tuyến đường Quảng lộ Phụng Hiệp thuộc khóm 1, phường Tân Thành, thành phố CM:
- Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường hai chiều, có dãy phân cách cố định, chiều rộng mặt đường là 11m70 đo từ dãy phân cách vào lề phải theo hướng Phước Long về hướng CM, đường có lề đường, có hệ thống báo hiệu đường bộ, không chướng ngại vật trên đường, dạng đoạn đường thẳng bằng phẳng, tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường làm bằng nhựa phẳng, có vạch kẻ phân thành 03 làn đường cho mỗi chiều xe chạy.
- Lấy cột điện số B19 làm mốc cố định, lấy mép đường bên phải theo hướng Phước Long về hướng CM làm lề chuẩn.
- Số 1: Dấu vết cày xe 69E1-311.52 dài là 15m10 có chiều hướng theo hướng Phước Long về hướng CM, đầu dấu vết cày đo vào lề chuẩn là 3m20, dấu vết cày kết thúc tại vị trí số 02 xe 69E1-311.52 ngã.
- Số 2: Vị trí xe 69E1-311.52 ngã bên phải đầu xe quay về hướng Phước Long, từ tâm bánh trước đo ra lề chuẩn là 0m10, từ tâm bánh sau đo vào lề chuẩn là 0m10 và đo đến dấu vết máu (số 3) là 0m80, đo đến tâm bánh sau bên trái (số 4) xe 69A-041.39 là 70m20, đo đến cột điện số B19 mốc cố định là 2m90.
- Số 3: Dấu vết máu đo ra lề chuẩn là 0m40.
- Số 4: Vị trí xe 69A-041.39 dừng đầu xe quay về hướng CM, từ tâm bánh trước bên trái đo về lề chuẩn là 2m00, từ tâm bánh sau bên trái đo vào lề chuẩn là 1m90.
Tại biên bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 199-GĐPY/2018 ngày 15/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh CM kết luận Nguyên nhân chết anh Nguyễn Văn T do: Chấn thương sọ não hở.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2019/HS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố CM quyết định:
Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260 bộ luật hình sự; Điểm b, s Khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 591, 601 của Bộ luật dân sự.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường Gi phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường Gi 01 (Một) năm tù.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo pháp luật quy định.
Ngày 23 tháng 5 năm 2019, bị cáo Nguyễn Trường Gi có đơn kháng cáo xin hưởng án treo. Người đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Văn T là bà Nguyễn Tú Ng kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét tăng mức hình phạt đối với bị cáo và xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Ngày 30 tháng 5 năm 2019, Người đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Văn T là bà Nguyễn Tú Ng có đơn xin rút toàn bộ đơn kháng cáo nên tòa án cấp phúc thẩm đã đình chỉ đối với kháng cáo của bà Ng.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trường Gi giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh CM tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tại phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo thừa nhận: Vào khoảng 23 giờ 47 phút, khi bị cáo đang điều khiển xe ô tô 69A-041.39 từ thành phố Hồ Chí Minh về đến đoạn đường Quảng lộ Phụng Hiệp, thì bị cáo cho xe chuyển sang làn đường bên phải khi chưa đảm bảo an toàn và không mở đèn tín hiệu dẫn đến va chạm vào xe mô tô 69E1-311.52 do Nguyễn Văn T đi cùng chiều bên phải gây ra tai nạn giao thông, hậu quả làm cho Nguyễn Văn T bị thương, đến khoảng 17 giờ 50 phút ngày 08/11/2018, T tử vong.
Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2019/HS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố CM xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.
. Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Tuyến đường Quảng lộ Phụng Hiệp là tuyến đường nối thành phố CM với các tỉnh lân cận nên thường xuyên có xe lưu thông và thường xảy ra tai nạn. Bị cáo điều khiển xe lưu thông trên tuyến đường này trong điều kiện thời tiết bình thường, là đường hai chiều, có dãy phân cách cố định, mặt đường rộng 11m70, đường có lề đường, có hệ thống báo hiệu đường bộ, không chướng ngại vật trên đường, dạng đoạn đường thẳng bằng phẳng, tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường làm bằng nhựa phẳng, có vạch kẻ phân thành 03 làn đường cho mỗi chiều xe chạy. Nhưng bị cáo cho xe chuyển sang làn đường bên phải khi chưa đảm bảo an toàn và không mở đèn tín hiệu dẫn đến va chạm vào xe mô tô 69E1-311.52 do anh Nguyễn Văn T đi cùng chiều với xe bị cáo. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ. Hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra dẫn đến anh T tử vong.
Quá trình xét xử phúc thẩm, bị cáo có cung cấp thêm tài liệu chứng minh bị cáo là lao động chính trong gia đình, cha bị cáo bệnh nằm một chổ, mẹ bị cáo lớn tuổi, vợ bị cáo đang mang thai sấp sinh con nhỏ, bị cáo đã khắc phục toàn bộ thiệt hại về trách nhiệm dân sự theo yêu cầu của bị hại, trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 mà cấp sơ thẩm đã xem xét.
Tuy nhiên, dù cho bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nhưng mức hình phạt án sơ thẩm tuyên 01 năm tù là mức khởi điểm của Điều luật quy định (mức khởi điểm là 01 năm đến 05 năm). Do đó việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết, đáp ứng yêu cầu địa phương về phòng chống tội phạm vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Vì vậy, kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ nhận định trên nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh CM là phù hợp.
. Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
. Các nội dung khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị nên không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị Quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
[1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trường Gi.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 79/2019/HS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố CM.
[2] Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trường Gi 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
[3] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trường Gi phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh CM; - Công an tỉnh CM; - Tòa án nhân dân thành phố CM; - Công an thành phố CM; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố CM; - Chi cục THADS thành phố CM; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa HS; án văn; - Lưu VT (TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Châu Minh Hoàng |