- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T (tên gọi khác: T) phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 97/2018/HSST Ngày: 27-4-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyễn Ngọc Quang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Ngọc.
2. Bà Bùi Thị Thúy Lan.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.
Vào ngày 27 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2018, theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 95/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Chí T (tên gọi khác: T), sinh năm 1987, tại Thành phố Hồ Chí Minh; thƣờng trú: Số 255, đƣờng K, tổ A, khu phố S, phƣờng H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Sửa xe; trình độ học vấn: 4/12; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1959 và bà Trƣơng Thị M, sinh năm 1963 (đã ly hôn năm 1996); bị cáo có 01 chị, sinh năm 1985; tiền sự: Không; tiền án: Bản án số 135/2011/HSST ngày 15/6/2011 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Nguyễn Chí T 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 29/01/2016, chƣa đƣợc xóa án tích; bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/12/2017 cho đến nay. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Trƣơng Thị M, sinh năm 1963. (Có mặt)
Thƣờng trú: Số 255, đƣờng K, tổ A, khu phố S, phƣờng H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người làm chứng:
1. Bà Lý Thị H, sinh năm 1988; (Có mặt)
Thƣờng trú: Ấp T, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Chỗ ở: Khu phố N, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.
2. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1975. (Vắng mặt)
Thƣờng trú: Khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 21/12/2017, Nguyễn Chí T điều khiển xe mô tô hiệu Raider biển số 59X2-915.91 đi từ nhà của T ở số 255, đƣờng K, tổ A, khu phố S, phƣờng H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đến cổng khu công nghiệp TB, thuộc quận T, Thành phố Hồ Chí Minh gặp một ngƣời phụ nữ khoảng 30 tuổi (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 1.000.000 đồng ma túy đá. Ngƣời phụ nữ bán cho T 01 gói nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng. Trên đƣờng về, T ghé vào quán cà phê không tên và lấy một ít ma túy đá ra sử dụng, số ma túy còn lại T đem về nhà cất giấu. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T lấy số ma túy còn lại cất vào lƣng quần và chạy xe mô tô biển số 59X2-915.91 đến nhà bạn gái là Lý Thị H rủ đi sinh nhật. Khi T chở H trên quốc lộ 1K đến đoạn đƣờng thuộc khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng thì bị lực lƣợng phòng chống ma túy Công an tỉnh Bình Dƣơng yêu cầu dừng xe kiểm tra, phát hiện T cất giấu 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng, T khai là ma túy đá nên Công an lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) gói nylon có chứa tinh thể màu trắng T khai là ma túy đá, 01 (một) xe mô tô hiệu Raider biển số 59X2-915.91, 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng gold, sim số 0904.793324 và 0934.044694. Tiền Việt Nam gồm: 58 (năm mƣơi tám) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 07 (bảy) tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 06 (sáu) tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 03 (ba) tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng.
Theo kết luận giám định số 575/MT-PC54 ngày 27/12/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon miệng kéo dính thu giữ của Nguyễn Chí T là ma túy, loại Methamphetamine, trọng lƣợng 4,6150 gam (trọng lƣợng còn lại sau giám định là 2,4445g).
Ngày 30/12/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can và lệnh tạm giam đối với Nguyễn Chí T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Đối với ngƣời phụ nữ đã bán ma túy cho Nguyễn Chí T hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với Lý Thị H do không biết Nguyễn Chí T cất giữ ma túy trong ngƣời nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không xử lý.
Tại bản cáo trạng số 85/CT – VKS ngày 19 tháng 3 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố Nguyễn Chí T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Tại phiên tòa trong phần tranh luận, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử vận dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo nhƣ: Bị cáo có 01 tiền án chƣa đƣợc xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội là tình tiết tăng nặng “Tái phạm”. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự đã đƣợc xóa, có 01 tiền án chƣa đƣợc xóa án tích. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 bì thƣ đã niêm phong số 575/PC54 bên trong có chứa tinh thể màu trắng loại Methamphetamine, trọng lƣợng còn lại sau giám định 2,4445g là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng, nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- Đối với xe môtô hiệu Raider biển số 59X2-915.91, do bà Trƣơng Thị M là mẹ ruột của bị can Nguyễn Chí T đứng tên chủ sở hữu. Khi T sử dụng xe mô tô trên làm phƣơng tiện phạm tội bà M không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại xe cho bà M nên không xem xét.
- Đối với 58 (năm mƣơi tám) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 07 (bảy) tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 06 (sáu) tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 03 (ba) tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng gold có số sim 0904.793324 và 0934.044694 không liên quan đến vụ án, đã trả lại số tài sản trên cho bị cáo T nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về thủ tục tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
Tại phiên toà, ngƣời làm chứng Nguyễn Văn P vắng mặt. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ngƣời làm chứng.
Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Chí T khai nhận: Vào khoảng 12 giờ ngày 21/12/2017, T điều khiển xe mô tô hiệu Raider biển số 59X2-915.91 đi từ nhà đến cổng khu công nghiệp TB, thuộc quận T, Thành phố Hồ Chí Minh gặp một ngƣời phụ nữ (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 1.000.000 đồng ma túy đá. Ngƣời phụ nữ bán cho T 01 gói nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng. Trên đƣờng về, T ghé vào quán cà phê không tên và lấy một ít ma túy đá ra sử dụng, số ma túy còn lại T đem về nhà cất giấu. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T lấy số ma túy cất vào lƣng quần và chạy xe mô tô biển số 59X2-915.91 chở bạn gái là Lý Thị H đi sinh nhật. Khi T chở H trên quốc lộ 1K đến đoạn đƣờng thuộc khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng thì bị lực lƣợng phòng chống ma túy Công an tỉnh Bình Dƣơng yêu cầu dừng xe kiểm tra, phát hiện T cất giấu 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng, T khai là ma túy đá nên Công an lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) gói nylon có chứa tinh thể màu trắng T khai là ma túy đá, 01 (một) xe mô tô hiệu Raider biển số 59X2-915.91, 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng gold, sim số 0904.793324 và 0934.044694. Tiền Việt Nam gồm: 58 (năm mƣơi tám) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 07 (bảy) tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 06 (sáu) tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 03 (ba) tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng.
Theo kết luận giám định số 575/MT-PC54 ngày 27/12/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon miệng kéo dính thu giữ của Nguyễn Chí T là ma túy, loại Methamphetamine, trọng lƣợng 4,6150 gam (trọng lƣợng còn lại sau giám định là 2,4445g).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định số 575/MT-PC54 ngày 27/12/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ ngƣời có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của ngƣời làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy của Nguyễn Chí T đã vi phạm vào Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Nhƣ vậy, Cáo trạng số 85/CT – VKS ngày 19 tháng 3 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An truy tố Nguyễn Chí T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi do mình gây ra.
Tính chất, mức độ của hành vi:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm việc quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma túy, gây tác hại rất lớn cho bản thân, cho xã hội và gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Ma túy là tiền đề của tội phạm. Hiện nay, Đảng, Nhà nƣớc và toàn xã hội đang ra sức tuyên truyền cho ngƣời dân hiểu biết về tác hại của ma túy và ra sức phòng chống. Chỉ vì muốn có ma túy sử dụng nên bị cáo đã thực hiện tội phạm là xem thƣờng pháp luật và bất chấp hậu quả. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý mức án phù hợp nhằm giáo dục trực tiếp bị cáo và phòng ngừa chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo đoạn tuyệt với ma túy.
Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bản án số 135/2011/HSST ngày 15/6/2011 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo T 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 29/01/2016, chƣa đƣợc xóa án tích, nay bị cáo tiếp tục phạm tội là tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự đã đƣợc xóa, có 01 tiền án chƣa đƣợc xóa án tích, học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế cha mẹ bị cáo ly hôn khi bị cáo mới 09 tuổi nên thiếu sự chăm sóc, giáo dục của gia đình.
Do hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy của bị cáo T thực hiện sau thời điểm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc công bố (ngày 03/7/2017) nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, hành vi “Vận chuyển trái phép chất ma túy” của bị cáo T nếu áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 là không có lợi cho bị cáo so với quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Do đó, khi quyết định hình phạt cần xem xét áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009 theo hƣớng có lợi cho bị cáo.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo và căn cứ khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 bì thƣ đã niêm phong số 575/PC54 bên trong có chứa tinh thể màu trắng loại Methamphetamine, trọng lƣợng còn lại sau giám định 2,4445g là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với xe môtô hiệu Raider biển số 59X2-915.91, do bà Trƣơng Thị M là mẹ ruột của bị can Nguyễn Chí T đứng tên chủ sở hữu. Khi T sử dụng xe mô tô trên làm phƣơng tiện phạm tội bà M không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại xe cho bà M nên không xem xét.
- Đối với 58 (năm mƣơi tám) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 07 (bảy) tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 06 (sáu) tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 03 (ba) tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng gold có số sim 0904.793324 và 0934.044694 không liên quan đến vụ án, đã trả lại số tài sản trên cho bị cáo T nên không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T (tên gọi khác: T) phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009; khoản 3 Điều 7, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù đƣợc tính từ ngày 21/12/2017.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 2,4445g tinh thể màu trắng loại Methamphetamine, chứa trong bì thƣ đƣợc niêm phong số 575/PC54.
Vật chứng Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy nêu trên thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/3/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Chí T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Dĩ An; - Công an thị xã Dĩ An; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Bị cáo; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - UBND phƣờng H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; - Lƣu hồ sơ vụ án, văn thƣ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Nguyễn Ngọc Quang |