vanban.org

Bản án 97/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 02/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Ph ạm Văn Q, Ph ạm Đình T, Ph ạm Văn H (sinh n ăm 1962), Nguyễn Văn S, Nguyễn Xuân M, Phạm Văn K, Hà Văn M, Phạm Văn H1 (sinh năm 1977), Phạm Văn D, Phạm Văn N, Hoàng Văn C, Phạm Văn Đ, Phạm Văn D1 phạm tội "Đánh bạc";

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, 3 điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điều 17; khoản 3 điều 35; điều 65; điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt : Bị cáo Phạm Văn Q 9 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 tháng k ể từ ngày tuyên án 02/7/2018. Giao b ị cáo cho… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Q và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Ph ạm Văn Q, Ph ạm Đình T, Ph ạm Văn H (sinh n ăm 1962), Nguyễn Văn S, Nguyễn Xuân M, Phạm Văn K, Hà Văn M, Phạm Văn H1 (sinh năm 1977), Phạm Văn D, Phạm Văn N, Hoàng Văn C, Phạm Văn Đ, Phạm Văn D1 phạm tội "Đánh bạc";
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 97/2018/HSST
Ngày 02/7/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh .

Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Toàn và Chu Thị Hồng Nhật

Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Minh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 7 n ăm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành ph ố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 80/2018/HSST ngày 17 tháng 5 năm 2018, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2018/QĐXX-ST ngày 01 tháng 6 năm 2018, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Văn Q, Sinh ngày 18/4/1966 (có mặt).

Nơi cư trú: Tổ 26, phường H, thành phố B, tỉnh Thái Bình.

Trình độ học vấn 07/10; Ngh ề nghiệp: Lao động tự do. Dân t ộc: Kinh. Gi ới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Phạm Văn H và Hà Th ị Q; có vợ Bùi Thị H và 01 con là Ph ạm Văn Q. Ti ền án, ti ền sự: không. B ị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/3/2018 đến ngày 12/3/2018 thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Họ và tên: Phạm Đình T, Sinh ngày 27/02/1968(có mặt).

Nơi cư trú: Tổ 27, phường H, thành phố B, tỉnh Thái Bình

Trình độ học vấn 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Ph ạm Đình T và bà Phạm Thị O; có vợ là Vũ Thị D; có 2 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2002.Ti ền án, ti ền sự: không. Nhân thân: T ừ tháng 3/1987 đến tháng 5/1990 tham gia nghĩa vụ quân sự đóng quân tại Cục kỹ thuật quân khu 3.

Bị tạm giữ từ ngày 07/3/2018 đến ngày 12/3/2018 thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

3. Họ và tên: Nguyễn Văn S, Sinh ngày 01/01/1967(có mặt).

Nơi cư trú: Tổ 27, phường H, thành phố B, tỉnh Thái Bình.

Trình độ học vấn 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do.Con ông: Nguyễn Văn H và bà Hà Thị D; có vợ: Phạm Thị H; có 2 con, con l ớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2007.Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Bản án số 32 ngày 24/8/1989 c ủa Tòa án nhân dân t ỉnh Thái Bình xử phạt 6 năm tù về tội Hiếp dâm, thời hạn tù tính từ ngày 26/2/1989, địa phương xác nhận Sơn đã thi hành xong hình ph ạt tù, đã thi hành xong án phí hình s ự; Bản án số 109 ngày 23/7/1997 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 5 năm tù về tội “Vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải” thời hạn tù tính từ ngày 14/4/1997, địa phương xác nhận Sơn đã thi hành xong hình phạt tù; được miễn án phí hình sự và án phí dân sự ngày 25/9/2008, đã thi hành phần bồi thường dân sự năm 2002. Bản án số 105/2014/HSST ngày 16/7/2014 c ủa Tòa án nhân dân thành ph ố Thái Bình x ử phạt 7 tháng tù về tội đánh bạc, đã chấp hành xong hình ph ạt tù ngày 24/10/2014, đã chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí hình sự.

Bị tạm giữ từ ngày 07/3/2018 đến ngày 13/3/2018 chuyển tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Thái Bình.

4. Họ và tên: Phạm Văn H, Sinh ngày 18/8/1962(có mặt).

Nơi cư trú: Tổ 26, phường H, thành phố B, tỉnh Thái Bình.

Trình độ học vấn 10/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông : Phạm Văn H và bà Hà Thị Q; có vợ: Trương Thị H; có 2 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1994.Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

5. Họ và tên: Nguyễn Xuân M, sinh ngày 02/10/1965(có mặt).

Nơi cư trú: Tổ 26, phường H, thành phố B, tỉnh Thái Bình.

Trình độ học vấn 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do.Con ông: Nguy ễn Ngọc K và bà : Nguyễn Thị M; có vợ: Vũ Thị T; có 2 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1992.Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân : Từ tháng 3/1985 đến tháng 6/1988 tham gia nghĩa vụ quân sự đóng quân tại Bộ ch ỉ huy quân s ự Thái Bình. B ị tạm gi ữ từ ngày 07/3/2018 đến ngày 12/3/2018 thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

6. Họ và tên: Phạm Văn K, Sinh ngày 01/7/1976(có mặt).

Nơi cư trú: Tổ 27, phường H, thành phố B, tỉnh Thái Bình.

Trình độ học vấn 9/12; Ngh ề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Ph ạm Văn K và bà: Đỗ Thị K; có v ợ: Bùi Th ị Đ; có 2 con, con l ớn sinh năm 1998, con nh ỏ sinh năm 2007.Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân : Ngày 9/7/1995 bị Công an huyện Đông Hưng xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản của công dân.

Bị tạm giữ từ ngày 07/3/2018 đến ngày 12/3/2018 thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

7. Họ và tên: Hà Văn M, Sinh ngày 15/6/1976(có mặt).

Nơi cư trú: Tổ 27, phường H, thành phố B, tỉnh Thái Bình.

Trình độ học vấn 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.Con ông : Hà Văn N và bà: Hà Thị C; có vợ: Phạm Thị T; có 2 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2005.Tiền án, ti ền sự: không. Nhân thân: Là Đảng viên đảng cộng sản Việt Nam, Bí thư Chi b ộ số 18 ph ường H, thành ph ố B đã bị đình ch ỉ sinh ho ạt Quy ết định số 33/QĐ/UBKTTU ngày 23/5/2018 của Ủy ban Kiểm tra thành ủy Thái Bình.

Bị tạm giữ từ ngày 07/3/2018 đến ngày 12/3/2018 thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.

8. Họ và tên: Phạm Văn H1, Sinh ngày 04/5/1977(có mặt).

Nơi cư trú: Tổ 19, phường Hoàng Diệu, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Trình độ học vấn 10/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do.Con ông : Phạm Văn Le và bà: Ph ạm Th ị Th ơm; có 2 con, con l ớn sinh n ăm 1998, con nh ỏ sinh n ăm 2000.Tiền án, ti ền sự: không. Bị tạm giữ từ ngày 07/3/2018 đến ngày 12/3/2018 thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

9. Họ và tên: Phạm Văn D, Sinh ngày 01/9/1974(có mặt).

Nơi cư trú: Tổ 18, phường H, thành phố B, tỉnh Thái Bình.

Trình độ học vấn 8/10. Ngh ề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Ph ạm Văn C và bà: Phạm Thị H; có vợ: Nguyễn Thị H; có 2 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2011. Ti ền án, ti ền sự: không. B ị tạm gi ữ từ ngày 07/3/2018 đến ngày 12/3/2018 thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.

10. Họ và tên :Phạm Văn N - Sinh ngày 26/9/1973(có mặt).

Nơi cư trú: Tổ 27, phường H, thành phố B, tỉnh Thái Bình.

Trình độ học vấn 3/10; Ngh ề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Ph ạm Văn N và bà: Phạm Thị C; có vợ: Hà Thị L; có 2 con, con l ớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2000.Tiền án, ti ền sự: không. Bị tạm giữ từ ngày 07/3/2018 đến ngày 12/3/2018 thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

11. Họ và tên: Hoàng Văn C, Sinh ngày 10/5/1963. (có mặt).

Nơi cư trú: thôn C, xã H, huyện V, tỉnh Nam Định.

Trình độ học vấn 7/10; Ngh ề nghiệp: Lao động tự do.Con ông: Hoàng V ăn N và bà: Trần Thị D; có vợ: Phạm Thị T; có 4 con, con lớn sinh năm 1986, con nhỏ sinh năm 1997.Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:Từ tháng 4/1981 đến tháng 10/1984 tham gia nghĩa vụ quân sự đóng quân tại sư đoàn 367, trungđoàn 528 sân bay Tân Sơn Nhất thành phố Hồ Chí Minh. Bị can bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

12. Họ và tên: Phạm Văn Đ, Sinh ngày 20/10/1971(có mặt).

Nơi cư trú: Tổ 27, phường H, thành phố B, tỉnh Thái Bình.

Trình độ học vấn 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Ph ạm Văn L và bà Tr ương Thị D.Tiền án, ti ền sự: không.Bị tạm giữ từ ngày 07/3/2018 đến ngày 12/3/2018 thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

13. Họ và tên: Phạm Văn D1, Sinh ngày 07/10/1979(có mặt).

Nơi cư trú: Tổ 27, phường H, thành phố B, tỉnh Thái Bình.

Trình độ học vấn 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Ph ạm Văn G con bà: Trần Thị T; có vợ: Hà Thị L; có 3 con, con l ớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2015.Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Quyết định số 298 ngày 16/7/2013 của Công an thành phố Thái Bình xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng, đã nộp tiền ngày 24/9/2013. Bị tạm giữ từ ngày 07/3/2018 đến ngày 12/3/2018 thay th ế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 07/3/2018 Phạm Văn Q, Phạm Văn Kh, Phạm Văn H1 sinh năm 1977, Nguyễn Văn S, Phạm Văn D, Phạm Văn Đ, Hà Văn M, Phạm Đình T, Nguyễn Xuân M, Phạm Văn D1, Phạm Văn N, Phạm Văn H sinh năm 1962 và Hoàng Văn C ngồi chơi uống nước tại nhà Phạm Văn Q ở tổ 26, phường H, thành phố B thì cùng nảy sinh ý định đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi xócđĩa. Tất cả rủ nhau cùng chơi và đi xuống gian bếp nhà Q chơi, Tâm lấy kéo có sẵn ở bếp cắt 4 quân vị hình tròn từ vỏ bao thuốc lá vinataba, mỗi quân vị có 2 mặt trắng và vàng, sauđó T lấy 01 bát sứ, 01 đĩa sứ tại bếp nhà Q, tất cả ngồi chơi và thống nhất cách chơi: T là người cầm cái, cho 4 quân vị vào trong lòngđĩa sau đó úp bát lên dùng hai tay giữ bát và xóc nhiều lần để quân vị di chuyển trong lòng bátđĩa rồi đặt bátđĩa xuống chiếu, người chơi sẽ đặt cửa chẵn, lẻ. Sau khi người chơi đặt cửa xong thì người cầm cái sẽ mở bát ra khỏi đĩa để kiểm tra số lượng quân vị trên đĩa cùng màu là số chẵn (2 hoặc 4) tức là ván đó về cửa chẵn, còn số lượng quân vị cùng màu là số lẻ (1 hoặc 3) tức là vánđó về cửa lẻ. Nếu về đúng cửa mà người chơi đã đặt tiền thì người cầm cái phải trả cho người chơi bằng số tiền mà người chơi đã đặt cửa, ngược lại nếu không về cửa mà người chơi đã đặt thì người cầm cái được số tiền người chơi đã đặt cửa. Mức cược thấp nhất là 10.000đồng, cao nhất là 40.000đồng. Sau khi thống nhất xong cách chơi T cầm cái cho mọi người bắt đầu chơi từ khoảng 12 giờ 10 phút đến 13 giờ 45 phút cùng ngày bị tổ công tác Công an thành phố Thái Bình bắt quả tang.

Tang vật thu gi ữ: 01 bát s ứ, 01 đĩa sứ màu tr ắng, 4 quân v ị hình tròn, số tiền 14.280.000 đồng (trong đó thu trên chi ếu 7.200.000 đồng, thu trong ví các đối tượng 7.080.000 đồng), 01 chiếu cói, 01chiếc kéo và 16 điện thoại di động các loại.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các b ị cáo đều khai nhận hành vi ph ạm tội, số tiền dùng vào việc đánh bạc của mình cụ thể như sau:

- Phạm Văn Q là ch ủ nhà, có s ố tiền 1.020.000 đồng để trước ra chi ếu chơi 520.000 đồng đánh bạc không rõ th ắng thua, khi b ị bắt Công an thu gi ữ hết số tiền trên. Ngoài ra Công an còn thu gi ữ 01 ví da màu nâu, 01 điện thoại Iphone 4s màu trắng (đã nhận lại đầy đủ).

- Phạm Đình T là ng ười cầm cái, chuẩn bị công cụ, có số tiền 1.200.000 đồng dùng đánh bạc, để hết trên chiếu đánh bạc, chơi nhiều ván không rõ thắng thua, khi bị bắt Công an thu gi ữ hết. Ngoài ra Công an còn thu gi ữ 01 điện thoại Goly màu vàng (đã nhận lại đầy đủ).

- Phạm Văn H (sinh năm 1962) có số tiền 2.970.000đồng để đánh bạc, lấy trước ra chiếu chơi 400.000 đồng đánh bạc không rõ thắng thua, khi bị bắt Công an thu giữ hết số tiền trên. Ngoài ra Công an còn thu giữ 01 ví da màuđen, 01điện thoại Iphone 6 plus màu vàng, 01điện thoại Nokia màuđen(đã nhận lại đầy đủ).

- Nguyễn Văn S có s ố tiền 2.130.000 đồng dùng để đánh bạc, lấy ra để trên chiếu chơi 570.000 đồng đánh bạc không rõ th ắng thua, khi b ị bắt Công an thu gi ữ hết. Ngoài ra Công an còn thu gi ữ 01 ví da màu đen, 01 điện thoại Iphone 4s màu đen, 01 điện thoại Nokia màu đen.

- Nguyễn Xuân M có s ố tiền 2.100.000 đồng để đánh bạc, lấy ra để trên chiếu chơi 600.000 đồng còn trong ví 1.500.000 đồng, qua các ván ch ơi không rõ th ắng thua, khi bị bắt Công an thu giữ hết. Ngoài ra Công an còn thu gi ữ 01 ví da màu đen, 01 điện thoại Nokia màu đen(đã nhận lại đầy đủ).

- Phạm Văn K có số tiền 1.050.000 đồng dùng đánh bạc, lấy ra để trên chiếu tại chỗ ngồi 500.000 đồng đánh bạc không rõ thắng thua, khi bị bắt Công an thu giữ hết. Ngoài ra Công an còn thu giữ 01 ví da màu đen, 01 điện thoại Sam sung màu vàng(đã nhận lại đầy đủ).

- Hà Văn M có số tiền 860.000 đồng để trước ra chiếu chơi 460.000 đồng còn trong ví 400.000 đồng nếu thua thì lấy ra chơi tiếp, qua các ván chơi không rõ thắng thua, khi bị bắt Công an thu giữ hết. Ngoài ra Công an còn thu giữ 01 ví da màu nâu, 01 điện thoại Sam sung màu vàng, 01điện thoại Nokia màuđen(đã nhận lại đầy đủ).

- Phạm Văn H1 sinh n ăm 1977 có s ố tiền 550.000 đồng để hết ra chi ếu chơi, khi bị bắt Công an thu gi ữ hết. Ngoài ra Công an còn thu gi ữ 01 điện thoại Iphone 6 plus màu vàng(đã nhận lại đầy đủ).

- Phạm Văn D mang theo 540.000 đồng để hết trên chi ếu đánh bạc, không rõ thắng thua, khi bị bắt Công an thu giữ hết. Ngoài ra Công an còn thu giữ 01 điện thoại Iphone 5s màu vàng, 01điện thoại Iphone 6 màu vàng(đã nhận lại đầy đủ).

- Phạm Văn N mang theo 500.000 đồng để hết trên chiếu đánh bạc, không rõ thắng thua, khi bị bắt Công an thu giữ hết. Ngoài ra Công an còn thu giữ 01 điện thoại Nokia màu đen(đã nhận lại đầy đủ).

- Hoàng Văn C mang theo 480.000 đồng để hết trên chiếu đánh bạc, không rõ thắng thua, khi bị bắt Công an thu giữ hết. Ngoài ra Công an còn thu giữ 01 điện thoại Nokia màu đen(đã nhận lại đầy đủ).

- Phạm Văn Đ mang theo 450.000 đồng để hết trên chi ếu đánh bạc, không rõ thắng thua, khi bị bắt Công an thu giữ hết.

- Phạm Văn D1 mang theo 430.000 đồng để hết trên chiếu đánh bạc, không rõ thắng thua, khi bị bắt Công an thu giữ hết. Ngoài ra Công an còn thu giữ 01 điện thoại Sam sung màu đen(đã nhận lại đầy đủ).

Trong quá trình đánh bạc không thu ti ền hồ, không có ng ười canh coi, không có người cho vay, cầm cố tài sản.

Tại cáo trạng số 89/CT-VKSTP ngày 16/5/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình quy ết định truy tố Phạm Văn Q, Phạm Đình T, Phạm Văn H (sinh n ăm 1962), Nguy ễn Văn S, Nguyễn Xuân M, Phạm Văn K, Hà Văn M, Phạm Văn H1 (sinh năm 1977), Phạm Văn D, Phạm Văn N, Hoàng Văn C, Phạm Văn Đ, Phạm Văn D1 về tội " Đánh bạc” theo quyđịnh tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph ố Thái Bình, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị xét xử các bị cáo:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn Q, Phạm Đình T, Phạm Văn H (sinh năm 1962), Nguyễn Văn S, Nguyễn Xuân M, Ph ạm Văn K, Hà Văn M, Ph ạm Văn H1 (sinh năm 1977), Phạm Văn D1, Phạm Văn N, Hoàng Văn C, Phạm Văn Đ, Phạm Văn D phạm tội "Đánh bạc";

+ Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i,s kho ản 1, 2 Điều 51, 17, 58, 65, 50, K3 Điều 35 BLHS xử phạt bị cáo Phạm Đình T, Phạm Văn Q mức hình phạt mỗi bị cáo từ 9-12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18- 24 tháng. Phạt bổ sung mỗi bị cáo 5-7 triệu đồng để sung công quỹ Nhà nước.

+ Áp d ụng kho ản 1, 3 Điều 321; điểm s kho ản 1 Điều 51, 17, 58, 38, 50,

K3Đ35 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 6-9 tháng tù giam, th ời hạn tù kể từ ngày bắt tạm giữ. Phạt bổ sung bị cáo 5-7 triệu đồng để sung công quỹ Nhà nước.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1,2 Điều 51, 17, 58, 36, 50 BLHS xử phạt bị cáo Phạm Văn D 9-12 tháng c ải tạo không giam gi ữ được trừ đi thời hạn tạm giữ. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

+ Áp d ụng kho ản 1 Điều 321; điểm i,s kho ản 1, 2 Điều 51, 17, 58, 35, 50 BLHS xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Xuân M, Ph ạm Văn H sinh năm 1962 mỗi bị cáo 20-25 triệu đồng.

+ Áp d ụng kho ản 1 Điều 321; điểm i,s kho ản 1, 2 Điều 51, 17, 58, 35, 50 BLHS xử phạt tiền bị cáo Phạm Văn K từ 15-20 triệu đồng.

+ Áp dụng khoản 1Điều 321; điểm i,s kho ản 1 Điều 51, 17, 58,35, 50 BLHS xử phạt tiền bị cáo Hà Văn M từ 15-20 triệu đồng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51, 17, 58, 35, 50 BLHS xử phạt tiền các bị cáo Ph ạm Văn H1 sinh n ăm 1977, Ph ạm Văn D1, Ph ạm Văn N, Phạm Văn Đ, Hoàng Văn C (áp d ụng thêm kho ản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Cương) mỗi bị cáo từ 12-15 triệu đồng.

Giao các bị cáo được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 BLHS 2015, Điều 106 BLTTHS đề nghị:

+ Tịch thu tiêu h ủy 01 đĩa sứ, 01 bát s ứ, 01 kéo, 04 quân v ị, 01 chi ếu cói là công cụ phương tiện phạm tội.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 14.280.000 đồng.

+ Trả lại bị cáo Nguyễn Văn S 01 ví da, 02 điện thoại nhưng tiếp tục quản lý đảm bảo thi hành án.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Các bị cáo đều không có ý ki ến gì về quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li ệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đúng quy định pháp luật.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận: Khoảng từ 12 giờ 10 phút ngày 07/3/2018, tại gian bếp nhà Phạm Văn Q thuộc tổ 26, phường H, thành ph ố B, Ph ạm Đình T đã cầm cái đánh xóc đĩa ăn tiền (được thua bằng tiền mức thấp nhất là 10.000 đồng và mức cao nh ất là 40.000 đồng) cùng với Phạm Văn Q, Phạm Văn K, Phạm Văn H1 (sinh năm 1977), Phạm Văn D, Phạm Văn Đ, Phạm Văn D1, Ph ạm Văn N, Ph ạm Văn H (sinh n ăm 1962), Nguy ễn Văn S, Hà Văn M, Nguyễn Xuân M và Hoàng Văn C đến 13 giờ 45 phút cùng ngày thì bị Công an thành phố Thái Bình phát hi ện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm 01 bát sứ, 01 đĩa sứ màu tr ắng, 4 quân v ị hình tròn 2 m ặt trắng , vàng và 14.280.000 đồng các bị cáo dùng vào vi ệc đánh bạc. Ngoài ra còn thu gi ữ 01 chiếu cói , 01 chi ếc kéo và 16 điện thoại di động các loại. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người chứng kiến là các anh Tăng Đình C, Phạm Văn Q và biên bản bắt người phạm tội quả tang và những tài liệu chứng cứ khác có trọng hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, sự việc và đồ vật. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định các bị cáo Phạm Văn Q, Ph ạm Đình T, Ph ạm Văn H (sinh n ăm 1962), Nguyễn Văn S, Nguyễn Xuân M, Phạm Văn K, Hà Văn M, Phạm Văn H1 (sinh năm 1977), Phạm Văn D, Phạm Văn N, Hoàng Văn C, Phạm Văn Đ, Phạm Văn D1 là những người đã thực hiện hành vi đánh xóc đĩa được thua bằng tiền với tổng số tiền là 14.280.000 đồng. Như vậy các bị cáo đã phạm tội " Đánh bạc” theo quyđịnh tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành ph ố Thái Bình, t ỉnh Thái Bình quyết định truy tố các bị cáo về tội " Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 321 - Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình th ức nào được thua bằng tiền hay hi ện vật tr ị giá t ừ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ho ặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam gi ữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. ....

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000đồng".

Đánh giá tính ch ất, mức độ, hậu quả của hành vi ph ạm tội của các bị cáo thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong cộng đồng dân cư, là nguyên nhân gây ra nhi ều loại tội phạm khác. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo để giáo dục các bị cáo đồng thời nhằm răn đe giáo dục chung.

Trong vụ án này các b ị cáo đánh bạc xuất phát từ việc tập trung ăn uống gặp mặt trong dòng h ọ, các bị cáo đều là ng ười trong dòng h ọ nên không có s ự tổ chức, chủ mưu, cầm đầu các bị cáo là nh ững đồng phạm giản đơn cùng nhau đánh bạc ăn tiền. Bị cáo Tâm là người chuẩn bị dụng cụ và cầm cái nên có vai trò thứ nhất, bị cáo Qu ỳnh là ng ười ch ứa ch ấp vi ệc đánh bạc nh ưng không thu ti ền hồ bị cáo không phạm tội gá bạc bị cáo có vai trò thứ hai, tiếp đến là các bị cáo khác là những đồng phạm.

Về tình ti ết tăng nặng, giảm nhẹ: Các bị cáo Ph ạm Văn Q, Ph ạm Đình T, Phạm Văn H (sinh năm 1962), Nguyễn Xuân M, Phạm Văn K, Hà Văn M, Phạm Văn H1 (sinh năm 1977), Phạm Văn D, Phạm Văn N, Hoàng Văn C, Phạm Văn Đ, Phạm Văn D1 đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng vì vậy các bị cáo đều được hưởng các tình ti ết giảm nhẹ theo điểm i,s khoản 1 điều 51 bộ luật hình sự. Các bị cáo Ph ạm Văn Q, Ph ạm Đình T, Ph ạm Văn H (sinh năm 1962) có bố mẹ là những người có công được tặng thưởng huân huy chương, các bị cáo Phạm Đình T, Nguyễn Xuân M, Hoàng Văn C đều đã tham gia quânđội nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ hình phạt quyđịnh tại khoản 2 điều 51 bộ luật hình sự.

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Đối với bị cáo Nguy ễn Văn S đã dùng số tiền 2.130.000 đồng để đánh bạc. Bị cáo là ng ười đã bị nhiều lần kết án và ph ải chịu hình ph ạt tù nh ưng không chịu cải tà quy chính ti ếp tục phạm tội. Vì vậy cần áp dụng hình ph ạt nghiêm kh ắc cách ly các bị cáo ra kh ỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và nh ằm răn đe giáo dục chung. Bị cáo thành kh ẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Phạm Đình T bị cáo dùng số tiền 1.200.000 đồng để đánh bạc tuy người cầm cái chuẩn bị công cụ phạm tội song do hành vi phạm tội của các bị cáo tự phát không có t ổ chức không có ng ười cầm đầu chủ mưu nên bị cáo không phải là ng ười chủ mưu, cầm đầu. Lẽ ra cần phải áp dụng hình ph ạt nghiêm kh ắc để giáo dục bị cáo và răn đe đối với các đối tượng khác nh ưng xét thấy bị cáo có nhân thân tốt đã từng tham gia quân đội, có bố mẹ đều được tặng thưởng huân huy chương và có hai tình ti ết giảm nhẹ khoản 1 và hai tình ti ết tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có địa chỉ rõ ràng có khả năng tự cải tạo bản thân và không gây nguy hiểm ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội vì vậy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục bị cáo là phù hợp

Đối với bị cáo Phạm Văn Q bị cáo dùng số tiền 1.020.000 đồng để đánh bạc. Bị cáo Q là ng ười chứa chấp các bị cáo đánh bạc tại nhà mình nh ưng không có mục đích thu lợi bất chính vì c ả nể với những người cùng chung dòng h ọ. Bị cáo Q có bố, mẹ đều được tặng thưởng nhiều huân huy ch ương và bị cáo có hai tình ti ết giảm nhẹ khoản 1 và một tình ti ết giảm nhẹ tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có địa chỉ rõ ràng có kh ả năng tự cải tạo bản thân và không gây nguy hi ểm ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội vì vậy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục để các bị cáo có điều kiện cải tà quy chính.

Đối với Phạm Văn D dùng s ố tiền 430.000 đồng để đánh bạc. Bị cáo đã một lần bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ giao bị cáo cho chính quy ền địa phương giám sát giáo d ục, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không kh ấu trừ thu nhập và không ph ạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Đối với các bị cáo Phạm Văn H (sinh năm 1962), dùng số tiền 2.970.000 đồng để đánh bạc, Nguyễn Xuân M dùng số tiền 2.100.000 đồng để đánh bạc. Phạm Văn K dùng s ố tiền 1.050.000 đồng để đánh bạc. Hà Văn M dùng số tiền 860.000 đồng để đánh bạc. Phạm Văn H sinh n ăm 1977 dùng s ố tiền 550.000 đồng để đánh bạc. Phạm Văn D dùng số tiền 540.000 đồng để đánh bạc. Phạm Văn N dùng số tiền 500.000 đồng để đánh bạc. Hoàng Văn C dùng số tiền 480.000 đồng đánh bạc. Phạm Văn Đ dùng số tiền 450.000 đồng đánh bạc. Các bị cáo đều có 2 tình ti ết giảm nhẹ khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự . Các bị cáo đều có nhân thân tốt có địa chỉ rõ ràng, có khả năng tự cải tạo bản thân và không gây nguy hi ểm ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội đều có mục đích đánh bạc vì tiền nên chỉ cần phạt tiền là hình phạt chính để răn đe các bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng đã thu giữ của bị cáo dùng vào việc đánh bạc gồm : 01 bát sứ , 01 đĩa sứ , 04 quân vị , 01 kéo, 01 chiếu cói.

- 01 ví da và 02 điện thoại thu của bị cáo Sơn không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

Tịch thu sung công qu ỹ nhà nước toàn bộ số tiền thu gi ữ của các bị cáo dùng vào việc đánh bạc.

Những đồ vật không liên quan đến việc phạm tội cơ quan điều tra đã quyết định xử lý không đặt ra giải quyết.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

1. Tuyên bố các bị cáo Ph ạm Văn Q, Ph ạm Đình T, Ph ạm Văn H (sinh n ăm 1962), Nguyễn Văn S, Nguyễn Xuân M, Phạm Văn K, Hà Văn M, Phạm Văn H1 (sinh năm 1977), Phạm Văn D, Phạm Văn N, Hoàng Văn C, Phạm Văn Đ, Phạm Văn D1 phạm tội "Đánh bạc";

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, 3 điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điều 17; khoản 3 điều 35; điều 65; điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt : Bị cáo Phạm Văn Q 9 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 tháng k ể từ ngày tuyên án 02/7/2018. Giao b ị cáo cho UBND phường H, thành ph ố B, t ỉnh Thái Bình giám sát và giáo d ục trong th ời gian th ử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi ph ạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình s ự 02 lần trở lên, thì Tòa án có th ể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình ph ạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung đối với bị cáo 5 triệu đồng.

Xử phạt bị cáo Phạm Đình T 9 (chín) tháng tù nh ưng cho hưởng án treo th ời gian thử thách là 18 tháng k ể từ ngày tuyên án 02/7/2018. Giao b ị cáo cho UBND phường H, thành ph ố B, t ỉnh Thái Bình giám sát và giáo d ục trong th ời gian th ử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi ph ạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình s ự 02 lần trở lên, thì Tòa án có th ể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình ph ạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung đối với bị cáo 5 triệu đồng.

Áp dụng kho ản 1, 3 điều 321, điểm s kho ản 1 Điều 51; điều 50; điều 38; khoản 3 điều 35; điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử ph ạt bị cáo Nguy ễn Văn S 6 tháng tù. Th ời hạn tù tính t ừ ngày tạm giữ 07/3/2018. Phạt bổ sung đối với bị cáo 6 triệu đồng.

Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điều 50; điều 36; điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015

Xử phạt bị cáo Phạm Văn D1 9 (chín) tháng cải tạo không giam giữ (được trừ 6 ngày tạm giữ x 3 = 18 ngày còn 8 tháng 12 ngày c ải tạo không giam giữ) Thời hạn cải tạo không giam gi ữ tính từ ngày UBND ph ường H, thành ph ố B, tỉnh Thái Bình nh ận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo cho UBND ph ường H, thành ph ố B, tỉnh Thái Bình giám sát và giáo dục. Miễn khấu trừ thu nhập, không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm i, s kho ản 1 và kho ản 2 Điều 51; điều 50; điều 35; điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn H (sinh năm 1962), số tiền 25 triệu đồng

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân M số tiền 22 triệu đồng.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn K số tiền 20 triệu đồng.

Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm i, s kho ản 1 và kho ản 2 Điều 51; điều 50; điều 54; điều 35; điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C, số tiền 15 triệu đồng.

Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm i, s kho ản 1 Điều 51; điều 50; điều 35; điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Hà Văn M số tiền 20 triệu đồng.

Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm i, s kho ản 1 Điều 51; điều 50; điều 54; điều 35; điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn H1 (sinh năm 1977) số tiền 15 triệu đồng

Xử phạt bị cáo Phạm Văn D số tiền 15 triệu đồng

Xử phạt bị cáo Phạm Văn N số tiền 15 triệu đồng

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ số tiền 12 triệu đồng

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điều 47 Bộ luật hình sự.

- Tịch thu sung công qu ỹ toàn b ộ số ti ền dùng đánh bạc của các b ị cáo 14.280.000 đồng.

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng thu giữ gồm: 01 bát sứ , 01 đĩa sứ , 04 quân vị , 01chiếc kéo, 01 chiếu cói.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S 01 ví da và 02 chiếc điện thoại.

(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm mô tả chi ti ết trong biên b ản giao nh ận vật chứng, tài sản tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình)

4. Về án phí: C ăn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 02/7/2018.

Cỡ chữ