- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo: Phạm Văn Sơn, sinh năm 1997.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN H.QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH _________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 97/2018/HSST Ngày 18/6/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ - TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.
Các Hội Thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thế Sách, cán bộ hưu xã Nhân Hòa, huyện Quế Võ.
2. Ông Trịnh Văn Toán, Giáo viên nghỉ hưu xã Đại Xuân, huyện Quế Võ.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thứ, Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên tòa: Ông Phùng Đắc Dũng, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 107/2018/TLST-HS, ngày 28 tháng 5 năm 2018. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2018/QĐXXST-HS ngày 5/6/2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn Sơn, sinh năm 1997.
HKTT: Thôn Sơn Trung, xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp; Lao động tự do. Văn hóa; 9/12. Quốc tịch; Việt Nam. Dân tộc; Kinh. Tôn giáo; không. Bố đẻ; Phạm Văn Khanh, sinh năm 1969. Mẹ đẻ; Đặng Thị Hiền, sinh năm 1977. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất. Vợ con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Tạm giữ, tạm giam: Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 6/03/2018 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ ngày 06/3/2018 Phạm Văn Sơn, sinh năm 1997 có HKTT tại thôn Sơn Trung, xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đi xe tắc xi từ chợ Trung tâm thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ lên khu vực cổng làng Giang Liễu, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh gặp và mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi Sơn không quen biết 200.000 đồng tiền ma túy được 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng. Sau khi mua được ma túy Sơn tiếp tục đi Tắc xi về chợ trung tâm thị trấn Phố Mới để tìm nơi sử dụng.
Khi Sơn về đến chợ trung tâm thị trấn Phố Mới thì có Nguyễn Thị My, sinh năm 1995 có HKTT: Khu 5, thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh điện thoại nói “Em là bạn của anh Kiên, anh để cho em hai trăm đồ”, ý của My là hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy. Sơn đồng ý và hẹn My đến khu vực đầu đường vào chợ trung tâm thị trấn Phố Mới để giao ma túy, My đồng ý. Khoảng 15 phút sau, My đi đến đầu đường vào chợ Trung tâm thị trấn Phố Mới và điện thoại cho Sơn, Sơn đi bộ ra gặp My và Nguyễn Thị Nghị, sinh năm 1993 có HKTT: thôn Đồng Kem, xã Đồng Yên, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. Sơn nói với My “đồ đây” đồng thời đưa cho My 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng. My biết đó là ma túy cần mua cầm và đưa cho Sơn 200.000 đồng thì bị lực lượng Công an huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Công an thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ bắt giữ và lập biên bản phạm tội quả tang đối với Sơn, thu giữ số vật chứng và niêm phong theo quy định.
Tại bản kết luận giám định số 335/KLGĐMT-PC54 ngày 06/03/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng có khối lượng là 0,0320 gam; là ma túy; Loại ma túy: Chất Methamphetamine.
Với nội dung trên, tại bản cáo trạng số 71/CTr-VKS ngày 27/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ truy tố Phạm Văn Sơn về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ Luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Sơn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố. Sau khi phân tích các chứng cứ, tình tiết của vụ án đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn Sơn phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với trọng lượng 0,0320 gam chất ma túy Methamphetamine và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự, xử phạt Phạm Văn Sơn từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 6/3/2018. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với Sơn vì bị cáo sống phụ thuộc gia đình, không có kinh tế riêng. Về vật chứng, căn cứ Điều 47 Bộ Luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy mẫu vật chứng còn lại sau giám định, tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng.
Bị cáo Sơn nhận tội và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn Sơn tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 6/3/2018 tại khu vực chợ Trung tâm thị trấn Phố Mới huyện Quế Võ Phạm Văn Sơn đã bị bắt quả tang có hành vi bán trái phép số ma túy chất Methamphetamine có khối lượng 0,0320 gam cho Nguyễn Thị My thu được số tiền 200.000 đồng.
Hành vi bán số ma túy Methamphetamine thuộc danh mục Nhà nước cấm sử dụng theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ của bị cáo Sơn đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ Luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ truy tố bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma túy là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho cộng đồng và xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội khác như trộm cắp, cướp giật. Do vậy hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ Luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật hình sự. Xét thấy bị cáo phạm tội mua bán trái phép chất ma túy là loại tội phạm mà hiện nay đang bị cả xã hội nên án mạnh mẽ, đây cũng là loại tội phạm để lại hậu quả vô cùng to lớn cho xã hội nên cần có hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục cải tạo bị cáo. Tuy nhiên cũng cần xem xét việc bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để quyết định hình phạt khi lượng hình.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo với mục đích thu lời bất chính nên đáng lẽ phải áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên bị cáo cũng mới thành niên, kinh tế phụ thuộc gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với Nguyễn Thị My là người đã có hành vi mua ma túy của Sơn, My khai ở Khu 5, thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ. Quá trình bắt giữ, My đã lợi dụng sơ hở bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không có ai tên My như đã khai nên đã tách ra tiếp tục xác minh để xử lý sau là phù hợp. Đối với Nguyễn Thị Nghị là người đi cùng với My, xác định Nghị không biết việc My rủ đi là để mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý mà chỉ nhắc nhở là phù hợp.
Về nguồn gốc số ma túy bị cáo Sơn khai do mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực cổng làng Giang Liễu, xã Phương Liễu, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa có kết quả nên đã tách ra tiếp tục xác minh để xử lý sau là có căn cứ.
Tang vật của vụ án: Số ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định là vật không được sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 200.000 đồng mà cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Sơn, đây là số tiền thu lợi bất chính nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Sơn phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 của Bộ Luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 329 của Bộ Luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; tuyên xử.
Xử phạt Phạm Văn Sơn 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 6/03/2018. Quyết định tạm giam bị cáo Phạm Văn Sơn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 18/6/2018 để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy số ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh. Tịch thu xung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 28/5/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Võ)
Về án phí: Buộc bị cáo Sơn phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Sơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND tỉnh Bắc Ninh.
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa. -VKSND huyện Quế Võ. -Công an huyện Quế Võ. -Chi cục THA dân sự huyện Quế Võ. -Những người tham gia tố tụng. -Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.
Nguyễn Sỹ Cây TOÀ ÁN NHÂN DÂN H. QUẾ VÕ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC NINH
Độc lập – Tự do - Hạnh Phúc
__________
__________________________________
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi.....giờ.....ngày 18 tháng 6 năm 2018
Tại phòng nghị án của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Sách, Ông Trịnh Văn Toán.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 107/2018/TLST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2018 đối với:
Bị cáo Phạm Văn Sơn, sinh năm 1997.
HKTT: Thôn Sơn Trung, xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC
VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:
1. Về tội danh; tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3.
2. Về điều luật áp dụng:
Áp dụng Khoản 1 Điều 151; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ Luật hình sự. Điều 106, Điều 136; Điều 329 của Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3.
3. Về mức hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn Sơn 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 6/3/2018.
- Quyết định tạm giam bị cáo Phạm Văn Sơn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 18/6/2018 để đảm bảo thi hành án.
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy Methamphetamin còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh. Tịch thu xung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 28/5/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Võ)
- Buộc bị cáo Sơn phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Sơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nghị án kết thúc vào hồi…....giờ..….phút, ngày 18 tháng 06 năm 2018.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
Thành viên Hội đồng xét xử
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thế Sách
Trịnh Văn Toán
Nguyễn Sỹ Cây TÒA ÁN NHÂN DÂN H. QUẾ VÕ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC NINH
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
__________
____________________________________
Số: 86 /2018/TL-HS
Quế Võ, ngày 18 tháng 6 năm 2018
TRÍCH LỤC BẢN ÁN HÌNH SỰ
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 97/2018/HSST ngày 18 tháng 6 năm 2018.
Đối với bị cáo Phạm Văn Sơn, sinh năm 1997.
HKTT: Thôn Sơn Trung, xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Con ông Phạm Văn Khanh, con bà Đặng Thị Hiền.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Sơn phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ Luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Sơn 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 6/03/2018. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 18/6/2018 để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí đối với bị cáo.
Nơi nhận.
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ -Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh.
Thẩm phán -Bị cáo Sơn
Nguyễn Sỹ Cây TÒA ÁN NHÂN DÂN H.QUẾ VÕ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC NINH
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
_________
_________________________________ Số: 74/2018/HSST-QĐTG
Quế Võ, ngày 18 tháng 6 năm 2018
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Sách, ông Trịnh Văn Toán.
Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ Luật tố tụng hình sự.
Căn cứ biên bản nghị án ngày 18 tháng 6 năm 2018 của Hội đồng xét xử sơ thẩm.
Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1.
Tạm giam bị cáo: Phạm Văn Sơn, sinh năm 1997.
HKTT: Thôn Sơn Trung, xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ Luật hình sự.
Thời hạn tạm giam là 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 18/6/2018.
Điều 2.
Cơ sở giam giữ Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh có trách nhiệm thi hành Quyết định này. Nơi nhận
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh.
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND huyện Quế Võ.
- Bị cáo Sơn.
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Sỹ Cây
| Nơi nhận -TAND tỉnh Bắc Ninh. -VKSND huyện Quế Võ. -Công an huyện Quế Võ. -Chi cục THA dân sự huyện Quế Võ. -Những người tham gia tố tụng. -Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Lộc phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Thành viên Hội đồng xét xử Nguyễn Hữu Hãn Nguyễn Thị Chung | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa. 4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số Bị cáo Lộc có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Sỹ Cây |