vanban.org

Bản án 97/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 21/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh H 03 (ba) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn A Th, huyện P Q, tỉnh Kiên Giang giám sát, g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 248 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 31 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 97/2018/HS-ST
Ngày: 21-8-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Trƣơng Quốc Triều

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Phƣớc Lộc

2. Ông Trịnh Phƣớc Đức

- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Thanh Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trúng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2018/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Thanh H, sinh năm 1978 tại C B, Tiền Giang; Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn A Th, huyện P Q, Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Bé B (đã chết), không rõ mẹ.

Tiền án: Không, nhưng về nhân thân vào ngày 28/4/2004 bị Tòa án nhân dân huyện D A, tỉnh B D xử phạt 08 tháng tù giam về tội: Đánh bạc. Tiền sự: Không.

Bị cáo Trần Thanh H bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cắm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 22/12/2017 Trần Thanh H cùng Nguyễn Thị Xuân T đến ấp D T, xã Dg T, huyện P Q xem đất để mua, khi đi đến khu đất trống thuộc ấp D T, xã D T, huyện P Q thì H tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền cùng nhiều người khác. Hình thức là chơi bài binh 06 lá (loại bài tây 52 cây), H mang theo 18.100.000 đồng dùng để đánh bạc nhưng chỉ lấy 10.000.000 đồng để dưới chiếu bạc, còn lại trong túi là 8.100.000 đồng nếu thua hết mới lấy tiền ra chơi tiếp. Sòng bài do H làm cái có 06 tụ tham gia, những người tham gia thì H không quen biết, không biết nhân thân, mỗi tụ đặt thấp nhất 100.000 đồng, cao nhất là 500.000 đồng, đến 14 giời cùng ngày thì bị bắt quả tang. Riêng Nguyễn Thị Xuân Th không tham gia đánh bạc chỉ đứng xem.

Vật chứng thu giữ:

- Tiền Việt Nam là 17.200.000 đồng thu tại chiếu bạc và 8.100.000 đồng thu trên người bị cáo H;

- 01 chiếc chiếu màu, kích thước 1,6m x 1,9m;

- 106 lá bài tây, loại bài 52 lá;

- 02 bộ bài tây, loại bài 52 lá.

Bản cáo trạng số 79/CT-VKSPQ ngày 09 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P Q truy tố bị cáo Trần Thanh H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 BLHS 1999.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Thanh H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 BLHS 1999 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 248 BLHS 1999; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Điều 33 BLHS, xử phạt bị cáo Trần Thanh H từ 09 đến 12 tháng tù giam. Áp dụng hình phạt bổ sung: Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình 2015 sự tuyên:

- Tịch thu, tiêu hủy 106 lá bài tây, 02 bộ bài tây, một chiếc chiếu màu, kích thước 1,6m x 1,9m;

- Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước số tiền: 25.300.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng, bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với quyết định truy tố, bản luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P Q.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P Q, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện P Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện P Q truy tố.

Vào khoảng hơn 12 giờ ngày 22/12/2017 tại khu đất trống thuộc ấp D T, xã D T, huyện P Q, tỉnh Kiên Giang, Trần Thanh H đứng ra cầm cái cho nhiều con bạc tham gia chơi bài binh 06 là ăn thua bằng tiền. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì bị bắt quả tang với số tiền dùng để đánh bạc là 25.300.000 đồng.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các chứng cứ thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đã đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo H phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự 1999 là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh, trật tự công cộng; chiếm đoạt tài sản của nhau thông qua hình thức đánh bạc; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo H nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, bản thân bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện D A, tỉnh B D xử phạt 08 tháng tù về tội Đánh bạc vào năm 2004, tuy nhiên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã chủ động cầm cái để các con bạc khác đặt tiền ăn thua với nhau.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tại phiên toà và quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo có tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền Việt Nam là 17.200.000 đồng thu tại chiếu bạc và 8.100.000 đồng thu trên người bị cáo H dùng vào việc đánh bạc cần tịch, thu sung quỹ Nhà nước; Đối với 01 chiếc chiếu màu, kích thước 1,6m x 1,9m;106 lá bài tây và 02 bộ bài tây đây là công cụ, phương tiện phạm tội, xét thấy cần tịch thu, tiêu hủy.

Về khấu trừ thu nhập bị cáo: Xét thấy nghề nghiệp hiện nay của bị cáo là làm thuê tự do, ai thuê gì thì bị cáo làm đó nên không có nơi làm việc ổn định và không có thu nhập ổn định vì vậy HĐXX nghị nên miễn việc trừ thu nhập của bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Đánh bạc”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 31 BLHS 1999:

Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh H 03 (ba) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn A Th, huyện P Q, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục trong thời hạn chấp hành hình phạt.

Do bị cáo H không có nơi làm việc và nguồn thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn việc khấu trừ thu nhập.

3. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 248 BLHS:

- Phạt tiền bổ sung Trần Thanh H 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 BLHS 1999, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc chiếu màu, kích thước 1,6m x 1,9m;106 lá bài tây và 02 bộ bài tây (Các vật chứng này đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P Q theo quyết định chuyển vật chứng số 49/QĐ-VKSPQ-HS ngày 09/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P Q);

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 25.300.000 đồng (Số tiền này đang tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước huyện P Q).

5. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Án xử công khai báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án án để xin xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Cỡ chữ