- Tranh chấp gì? án hình sự — "PHẠM TẤN S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phạm Tấn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 97/2017/HSST Ngày: 28/8/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Trƣơng Quốc Triều
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Dƣơng Tấn Đấu
2/ Ông Lƣơng Công Chủ
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trúng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:101/2017/HSST ngày 01 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Tấn S, sinh năm: 1985, tại: H T, Bình Thuận
Nơi ĐKNKTT: thôn Đ Th, xã T H, huyện H T, tỉnh Bình thuận
Chỗ ở: ấp Ô L, xã C D, huyện P Q, tỉnh Kiên Giang
Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: kinh
Trình độ văn hóa: 12/12
Nghề nghiệp: làm thuê
Con ông: Phạm Văn D
và bà: Lê Thị M
Bị cáo chưa có vợ
Tiền án, tiền sự: không
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2017 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Tấn S có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/5/2017 S điện thoại cho T (không rõ nhân thân) để mua ma túy đá với số tiền 2.500.000đ tại ấp S M, xã D T. Sau khi mua được ma túy S mang về nhà trọ K S tại ấp Ô L, xã C D, huyện P Q lấy một ít ra sử dụng, số ma túy còn S phân ra thành 09 bịch nhỏ cất giấu vào một cái ví da để giành sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 30/5/2017 lực lượng Công an huyện P Q kiểm tra thì phát hiện bắt quả tang và thu giữ cùng tang vật.
Bị cáo Phạm Tấn S tại phiên tòa thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
* Vật chứng thu giữ:
- 04 bịch nylon hình chữ nhật có kích thước 01 cm x 02 cm, bên trong có chứa những hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất.
- 02 bịch nylon hình vuông, có kích thước 1,5 cm x 1,5 cm, bên trong có chứa những hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất.
- 03 bịch nylon hình chữ nhật, có kích thước 1,5 cm x 03 cm, bên trong có chứa những hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất.
- 01 ĐTDĐ hiệu Iphone màu trắng, bị bể ốp lưng, model A1387, số IC 579C- E2430A, bên trong có gắn sim số 0947570006.
* Tại bản kết luận giám định số 303/KL-KTHS ngày 05/06/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất trong 09 bịch nylon màu trắng được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Trọng lượng mẫu gửi giám định là 2,5186 gam.
Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo S không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định pháp y của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
Tại bản cáo trạng số: 101/KSĐT-MT ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P Q đã truy tố bị cáo Phạm Tấn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 BLHS.
Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Tấn S về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 BLHS.
Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 194 BLHS; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS và Điều 33 BLHS, xử phạt bị cáo Phạm Tấn S từ 02 đến 03 năm tù
Về tang vật: áp dụng khoản 1 Điều 41 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 2,3897 gam Methamphetamine còn lại sau giám định; Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 ĐTDĐ hiệu Iphone màu trắng, bị bể ốp lưng, model A1387, số IC 579C-E2430A, bên trong có gắn sim số 0947570006.
Đối với đối tượng tên T bán ma túy cho Phạm Tấn S, Cơ quan cảnh sát điều tra đang xác minh làm rõ xử lý sau.
Bị cáo không có ý kiến gì đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện P Q.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của bị cáo và Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Về hành vi, quyết định truy tố của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P Q trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện P Q truy tố.
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/5/2017 Phạm Tấn S liên lạc qua điện thoại với T để mua 2.500.000đ ma túy đá tại ấp S M, xã D T; sau khi mua được ma túy S mang về nhà trọ K S để sử dụng và phân ra thành 09 bịch nhỏ. Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 30/5/2017 Công an huyện P Q tiến hành kiểm tra phòng trọ nơi S đang ở trọ thì phát hiện trong túi quần của bị cáo có 09 bịch ma túy đá. Qua giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang số 303/KL-KTHS ngày 05/06/2017 kết luận: Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất trong 09 bịch nylon màu trắng được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Trọng lượng mẫu gửi giám định là 2,5186 gam.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Với các tình tiết đã được chứng minh tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phạm Tấn S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 BLHS.
Bị cáo là một thanh niên đã trưởng thành nên có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi muốn có ma túy để sử dụng mà bị cáo bất chấp pháp luật cố tình thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, vi phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà Nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, tạo gánh nặng cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo, cũng tạo điều kiện để bị cáo cai nghiện từ bỏ ma túy làm lại cuộc đời và cũng phòng ngừa chung cho xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay cùng với sự phát triển của xã hội thì tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện P Q diễn ra ngày càng nhiều, thủ đoạn ngày càng tinh vi để lại nhiều hậu quả nặng nề gây nhiều bức xúc trong nhân dân và xã hội.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra bị cáo thật thà thai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS. Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình cho bị cáo, cũng như chấp nhận lời đề nghị của Vị đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện P Q.
Về tang vật: cần tuyên tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.; Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 ĐTDĐ hiệu Iphone màu trắng, bị bể ốp lưng, model A1387, số IC 579C- E2430A, bên trong có gắn sim số 0947570006.
Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: bị cáo Phạm Tấn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Áp dụng khoản 1 Điều 194 BLHS; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS; Điều 33 BLHS.
Xử phạt: Phạm Tấn S 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31/5/2017.
3. Về tang vật: áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng tuyên: Tịch thu tiêu hủy 1,5880 gam Methamphetamine còn lại sau giám định.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 ĐTDĐ hiệu Iphone màu trắng, bị bể ốp lưng, model A1387, số IC 579C- E2430A, bên trong có gắn sim số 0947570006.
(Tang vật trên đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự huyện P Q theo biên bản giao nhận ngày 27/6/2017)
4. Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Phú Quốc; - Nhà tạm giữ huyện Phú Quốc; - THA huyện Phú Quốc; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trƣơng Quốc Triều |