vanban.org

Bản án 969/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 24/07/2018 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thanh T1 - Võ Nhật T2"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Bản án số: 969/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 24-7-2018

V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Cao

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:

1. Bà Lê Thị Nhanh

2. Bà Lê Thị Nhung

-"Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thùy – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong ngày 24 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 170/2018/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 5 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2807/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:

1."Nguyên"đơn:"Bà Trần Thanh T1, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Địa chỉ: 317/3/9 đường A, Phường B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị"đơn: Ông Võ Nhật T2, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Quốc tịch: Việt Nam

Địa chỉ: Avenue Riverside, CA 92503, USA.

Các đương sự đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Trong đơn khởi kiện ngày 01/3/2018 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Trần Thanh T1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Võ Nhật T2 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 22, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 28/2016 ngày 28/3/2016. Sau khi kết hôn, ông T2 sang định cư tại Hoa Kỳ, còn bà vẫn ở lại Việt Nam và hai người đã sống ly thân kể từ tháng 5/2016. Vì cuộc sống chung vợ chồng thường xuyên phải xa cách nên hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Từ ngày 08/8/2017, bà và ông T2 không còn liên lạc với nhau, sau đó ông T2 có liên hệ lại với bà để yêu cầu được ly hôn. Nhận thấy hai bên không còn tình cảm với nhau, hôn nhân không hạnh phúc nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Võ Nhật T2.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có. Vì bận việc, bà yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.

Tại bản tự khai ngày 05/6/2018 (được hợp pháp hóa lãnh sự ngày 11/6/2018 tại Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại San Francisco), bị đơn là ông Võ Nhật T2 xác nhận lời trình bày của bà T1 về thời điển kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng; về con chung, tài sản chung và nợ chung là đúng. Nay bà T1 xin ly hôn, ông đồng ý được ly hôn với bà T2. Do bận việc, ông yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Xét yêu cầu của nguyên đơn Trần Thanh T1, Hội đồng xét xử nhận thấy bà T1 và ông T2 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường 22, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vì vậy căn cứ vào Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa án xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Bị đơn hiện đang cư trú tại Hoa Kỳ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự trong vụ án:

Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227; Điều 228; khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Xét yêu cầu của bà Trần Thanh T1 được ly hôn ông Võ Nhật T2, Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của bà T1 và ông T2 thì thực tế sau khi kết hôn hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được. Từ khi kết hôn cho đến nay, bà T1 và ông T2 không có quá trình chung sống lâu dài, do khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hai bên chưa có sự gắn kết sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Hiện nay bà T1 và ông T2 đang sinh sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy bà T1 yêu cầu ly hôn với ông T2 là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà T1 và ông T2 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Trần Thanh T1 chịu.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 121 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử:!

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thanh T1 được ly hôn với ông Võ Nhật T2.

Giấy chứng nhận kết hôn số 28/2016 ngày 28/3/2018 do Ủy ban nhân dân Phường 22, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thanh T1 và ông Võ Nhật T2 không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Trần Thanh T1 và ông Võ Nhật T2 xác định không có, Tòa không xét.

3. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Trần Thanh T1 chịu và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà T1 đã đóng tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2017/0044357, ngày 24/4/2018 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T1 đã nộp đủ tiền án phí.

4. Bà Trần Thanh T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Ông Võ Nhật T2 được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ