vanban.org

Bản án 965/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 965/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 30/9/2019
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán, Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Minh Tuân

2. Bà Nguyễn Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương – Thư ký Tòa án nhân dân

quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 30 tháng 9 năm 2019 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân

Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số

556/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết

định đưa vụ án ra xét xử số 288/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/8/2019, giữa

các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Lê Thùy T – sinh năm 1984

Địa chỉ: đường G, Phường B, quận X, Thành phố Hồ Chí Minh

(Có mặt)

2. Bị đơn: Ông Dương Xuân Đ – sinh năm 1984

Địa chỉ: đường G, Phường B, quận X, Thành phố Hồ Chí Minh

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và các buổi làm việc tại Tòa án, nguyên đơn - bà Trần

Lê Thùy T trình bày: Bà và ông Đ tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau từ

năm 2013, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 65 quyển số

01/2013 ngày 20/4/2013 do Ủy ban nhân dân Phường B, quận X, Thành phố Hồ

Chí Minh cấp.

Sau khi cưới cả hai về chung sống tại nhà chồng ở quận X, Thành phố Hồ

Chí Minh. Cuộc sống vợ chồng bình thường được một thời gian thì mâu thuẫn

phát sinh, nguyên nhân là do cả hai bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề trong

cuộc sống nên thường xuyên xảy ra xung đột, không chia sẻ được với nhau, mặc

dù đã nhiều lần hòa giải nhưng không thu được kết quả gì. Nay nhận thấy tình

cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn nên bà xin ly

hôn với ông Đ để sớm ổn định cuộc sống.

- 1 -

Về con chung: Cả hai có 02 con chung tên là Dương Tuệ M – sinh ngày

03/02/2014 và Dương Bá L – sinh ngày 15/7/2017. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà T xin tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về nợ chung: Bà T khai không có

Bị đơn – ông Dương Xuân Đ mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ

lý vụ án, triệu tập hợp lệ lên Tòa để trình bày ý kiến, tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng ông Đ vẫn không đến cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn - bà T giữ nguyên ý kiến và yêu cầu đã trình bày trước Tòa. Bà

xác định vợ chồng đã không còn tình cảm, ông Đ cũng không có mong muốn hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà.

Bị đơn - ông Đ vắng mặt không có lý do cũng không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: Bà T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông

Đ, ông Đ cư ngụ tại quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Toà án nhân dân quận Tân Bình thụ lý giải quyết là đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền.

Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 65 quyển số

01/2013 ngày 20/4/2013 do Ủy ban nhân dân Phường B, quận X, Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì hôn nhân giữa bà T và ông Đ là hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình giải quyết vụ án, ông Đ mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào Điều 175, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ.

Xét yêu cầu của đương sự:

Về hôn nhân: Bà T có yêu cầu ly hôn với ông Đ. Hội đồng xét xử xét

thấy: Theo bà T trình bày cuộc sống vợ chồng giữa bà và ông Đ có nhiều mâu thuẫn, cả hai không nói chuyện chia sẻ được với nhau nên không còn hạnh phúc. Toà án đã nhiều lần triệu tập ông Đ đến Toà để lấy lời khai, tham gia phiên hòa giải và tham dự phiên tòa xét xử vụ án nhưng ông Đ không đến, cũng không có ý kiến gì chứng tỏ sự thiếu thiện chí trong việc mong muốn giải quyết mâu thuẫn gia đình để vợ chồng đoàn tụ. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng của bà T và ông Đ không hạnh phúc, còn tồn tại những mâu thuẫn chưa giải quyết, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.

Về con chung: Bà T và ông Đ có 02 con chung tên Dương Tuệ M –

sinh ngày 03/02/2014 và Dương Bá L – sinh ngày 15/7/2017. Bà T trình bày do

các con còn nhỏ, cần được sự chăm sóc của mẹ nên bà yêu cầu được trực tiếp

nuôi dưỡng cả hai con. Ông Đ cũng không có ý kiến gì về yêu cầu của bà T đối

với việc nuôi dưỡng con, do đó để đảm bảo sự phát triển ổn định của trẻ, Hội

đồng xét xử giao 02 con chung cho bà Trang trực tiếp nuôi dưỡng.

Về mức cấp dưỡng: Do bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên hoãn

nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông Đ.

Quyền thăm nom, chăm sóc con chung và các quyền, lợi ích chính đáng liên

quan đến việc nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con được pháp luật ghi nhận và

bảo vệ tại các điều 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể

thay đổi.

Ông Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở

hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục

con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm

nom con của người đó.

Bà T và gia đình không được cản trở ông Đ thăm nom, chăm sóc, nuôi

dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc cá nhân tổ

chức theo qui định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung: Bà T xin tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải

quyết. Ông Đ vắng mặt không có ý kiến hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử

không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà T khai không có, ông Đ vắng mặt không có ý kiến

hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết

Về án phí: Căn cứ vào Luật phí và lệ phí năm 2015 và điểm a khoản 5

Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì bà T phải

chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được cấn trừ toàn bộ vào tiền tạm

ứng án phí mà bà T đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các điều 56, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 107, 110, 116,

117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ vào Luật phí và lệ phí năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 (kèm theo Danh mục án phí, lệ phí Tòa án).

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, bà Trần Lê Thùy T:

- Về hôn nhân: Bà Trần Lê Thùy T được ly hôn với ông Dương Xuân Đ.

- Về con chung: Cả hai có 02 con chung tên Dương Tuệ M – sinh ngày

03/02/2014 và Dương Bá L – sinh ngày 15/7/2017. Giao các con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông Đ do bà T không có yêu cầu.

Quyền thăm nom chăm sóc con chung và các quyền, lợi ích chính đáng liên

quan đến việc nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con được pháp luật ghi nhận và bảo vệ tại các Điều 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể

thay đổi.

Ông Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Bà T và gia đình không được cản trở ông Đ thăm nom, chăm sóc, nuôi

dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc cá nhân tổ

chức theo qui định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà T xin tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Đ vắng mặt không có ý kiến hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Bà T khai không có, ông Đ vắng mặt cũng không có ý kiến

hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2. Về án phí:

Bà Trần Lê Thùy T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm

ngàn) đồng, được cấn trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng mà bà T đã nộp theo biên lai số 0038501 ngày 27/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình. Bà T không phải nộp thêm án phí.

3. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận

được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ tại địa phương.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành

án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật

Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều

30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ