vanban.org

Bản án 96/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lầu A N phạm tội "Trốn khỏi nơi giam".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lầu A N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án số 43/2026/HS-ST ngày 03/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Điện Biên là 11 tháng 20 ngày (đối với bản án này bị cáo đã chấp hành được 06 tháng 10 ngày, bị cáo còn phải chấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lầu A N - trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử (điều 386 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lầu A N phạm tội "Trốn khỏi nơi giam".
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 96/2026/HS-ST
Ngày 25-8-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Nhung

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Hiền;

Ông Thùng Văn Quân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Dần - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5- Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Trần Hồng Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Điện Biên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 95/2026/TLST-HS ngày 29/7/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2026/QĐXXST-HS ngày 12/8/2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lầu A N; Sinh năm 2003 tại tỉnh Sơn La; Số CCCD: 014203013268, Cục cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 14/5/2023; Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Bản Co Đ, xã Chiềng Kh, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Không có nghề nghiệp; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lầu Vạ Di và bà Mùa Thị C; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: có 02 tiền án (Ngày 25/10/2023 bị TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử theo bản án số 10/2023/HSST về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự với hình phạt 01 năm 04 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/10/2024; Ngày 03/2/2026 bị TAND khu vực 1 - Điện Biên xét xử theo bản án số 43/2026/HSST về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự với hình phạt 01 năm 06 tháng tù. Hiện chưa được xóa án tích); Nhân thân: Ngày 13/8/2019 bị TAND Thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên xét xử theo bản án số 09/2019/HSST về tội Cướp giật tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, hình phạt 36 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/7/2021, đã được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/05/2026 đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Thùng Văn Ch; Sinh năm 1980; Nghề nghiệp: Cán bộ; Nơi công tác: Phân trại tạm giam N, trại giam Công an tỉnh Điện Biên; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lầu A N là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại Phân trại tạm giam N, Trại giam Công an tỉnh Điện Biên có trụ sở tại bản N, xã N, tỉnh Điện Biên, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2026/HS-ST, ngày 03/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Điện Biên về tội “Trộm cắp tài sản”. Lầu A N được bố trí ở tại buồng phạm nhân thuộc Phân trại tạm giam Nà H.

Hồi 06 giờ 03 phút ngày 08/5/2026, Thiếu tá Thùng Văn Ch - Cán bộ trực ban, trực quản giáo mở cửa buồng phạm nhân để đưa phạm nhân Lầu A N, Giàng A Ph ra quét dọn khu vực làm việc của Phân trại tạm giam N. Ban đầu, N được giao nhiệm vụ dọn dẹp tại khu vực bếp ăn và bể nước của Phân trại. Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, N được cán bộ Thùng Văn Ch dẫn đến khu vực làm việc chung của Cán bộ Phân trại để lau dọn vệ sinh khu vực làm việc. Đến khoảng 06 giờ 40 phút cùng ngày, lợi dụng lúc đồng chí Thùng Văn Ch đi vệ sinh và thấy cổng Phân trại chỉ có chốt khóa ngang, không khóa cửa, N thực hiện hành vi trốn khỏi nơi giam để trở về nhà. N đến cổng sắt kéo mở then chốt cổng, đi ra ngoài cổng Phân trại rồi rẽ trái đi đến khu vực tường rào xây và trèo, nhảy qua tường rào đi lên khu vực rừng phía sau Phân trại để trốn. N ngồi ở một gốc cây gần trạm phát sóng tại khu vực đỉnh đồi, chờ trời tối rồi xuống đường quốc lộ để đón xe khách về nhà ở tỉnh Sơn La. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, N đi xuống đường nhựa gần Phân trại Nà Hỳ về hướng tỉnh Điện Biên để tìm đón xe khách đi Sơn La. Hồi 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi N đang tìm đón xe khách đi Sơn La thì bị tổ công tác Phân trại tạm giam phát hiện và đưa về trụ sở Phân trại tạm giam N.

Ngày 22/5/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên tạm giữ: 01 ổ cứng màu bạc, nhãn hiệu SEAGATE, mã SN: ZGY9L0LA, dung lượng 4TB, tình trạng cũ, đã qua sử dụng do ông Thùng Văn Nghị (trưởng Phân trại tạm giam Nà Hỳ) quản lý, sử dụng tại Phân trại tạm giam N để phục vụ công tác điều tra vụ án.

Quá trình điều tra đã làm rõ: Chỉ có dữ liệu của Camera giám sát lắp trong phòng ngủ phạm nhân Lầu A N được lưu trữ trong ổ cứng còn dữ liệu của Camera giám sát có mắt quay ra hướng sân và sảnh nơi phạm nhân Lầu A N dọn vệ sinh và bỏ trốn vào lúc khoảng 06 giờ 40 phút ngày 08/5/2026 thì hoạt động bình thường nhưng không có dữ liệu lưu trữ trong ổ cứng; dữ liệu của hai Camera giám sát nêu trên được cài đặt lưu trữ vào hai ổ cứng khác nhau. Dữ liệu cuối cùng của Camera giám sát có mắt quay ra hướng sân và sảnh nơi phạm nhân Lầu A N dọn vệ sinh và bỏ trốn được lưu trong ổ cứng là lúc 17 giờ 15 phút ngày 07/5/2026. Đến 08 giờ 07 phút ngày 08/5/2026, ổ cứng mới tiếp tục lưu dữ liệu.

Ngày 28/5/2026 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên ra Quyết định trưng cầu giám định số 3298/QĐ-VPCQCSĐT-Đ3, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên giám định Kỹ thuật số và điện tử để xác định tính toàn vẹn về nội dung của đoạn Video ghi lại cảnh bên trong buồng ngủ của phạm nhân Lầu A N. Kết luận giám định số 594/KL-KTHS, ngày 08/6/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh đoạn Video gửi giám định (Có bản ảnh mô tả diễn biến sự việc kèm theo).

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên ra Quyết định trưng cầu giám định số 3299/QĐ-VPCQCSĐT-Đ3, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên giám định Kỹ thuật số và điện tử để phục hồi, trích xuất dữ liệu ghi hình phát sinh trong thời gian từ 06 giờ 00 phút ngày 08/5/2026 đến 07 giờ 10 phút ngày 08/5/2026 của Camera giám sát có mắt quay ra hướng sân và sảnh nơi làm việc của Cán bộ Phân trại tạm giam Nà Hỳ lưu trữ trong ổ cứng đã tạm giữ của Phân trại tạm giam Nà Hỳ. Kết luận giám định số 583/KL-KTHS, ngày 05/6/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự, kết luận: Không tìm thấy dữ liệu ghi hình phát sinh trong thời gian từ 06 giờ 00 phút ngày 08/5/2026 đến 07 giờ 10 phút ngày 08/5/2026 của Camera giám sát có mắt quay ra hướng sân và sảnh nơi làm việc của Cán bộ Phân trại tạm giam Nà Hỳ lưu trữ trong ổ cứng lưu trữ dữ liệu.

Để làm rõ nội dung này, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên đã tiến hành các biện pháp, hoạt động điều tra như sau:

Ngày 16/6/2026, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên ban hành Công văn số 1014 và 1015, gửi đến Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên và Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Điện Biên để làm rõ.

Công văn phúc đáp số 396/PC09, ngày 18/6/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, phúc đáp nội dung như sau:

(1) Trường hợp Camera giám sát hoạt động bình thường nhưng dữ liệu không được lưu trữ trong ổ cứng có thể xảy ra do một số nguyên nhân: Nguyên nhân khách quan: Khi đầu ghi hoạt động liên tục trong một khoảng thời gian dài sẽ dẫn đến bộ nguồn cung cấp cho đầu ghi có xu hướng bị “già” đi (Cường độ dòng điện cung cấp cho đầu ghi hình ngày một yếu dần). Lúc này, bộ nguồn hoạt động chập chờn, không cung cấp đủ dòng điện cần thiết cho các thành phần của đầu ghi, có thể dẫn đến tình trạng đầu ghi hoạt động bình thường nhưng ổ cứng gắn bên trong đầu ghi không hoạt động. Nguyên nhân chủ quan: Do người dùng đăng nhập vào đầu ghi và thao tác tắt/bật chế độ lưu Video vào ổ cứng.

(2) Hầu hết phần cứng của các đầu ghi hình thông dụng trên thị trường như Hikvision, Dahua, Kbvison, Wisenet,... đều thiết kế không cho phép người dùng xóa từng phần dữ liệu (Từng đoạn Video nhỏ hay từng ngày của một Camera cụ thể) trực tiếp trên giao diện đầu ghi. Nếu muốn xóa dữ liệu, người dùng bắt buộc phải chọn giải pháp Format (Định dạng) lại toàn bộ ổ cứng hoặc tháo rời ổ cứng khỏi đầu ghi và kết nối với máy tính chạy hệ điều hành Linux để can thiệp trực tiếp vào cấu trúc tệp tin.

Công văn phúc đáp số 2603/SKHCN-ĐMST, ngày 19/6/2026 của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Điện Biên, phúc đáp nội dung như sau:

(1) Có thể xảy ra trường hợp Camera giám sát hoạt động bình thường nhưng dữ liệu không được lưu trữ trong ổ cứng. Trong trường hợp này vẫn có thể xem được hình ảnh trực tiếp từ Camera nhưng khi muốn xem lại thì không có dữ liệu. Nguyên nhân có thể do một số lỗi như sau: Thứ nhất, ổ cứng bị hỏng vật lý hoặc lỗi Bad Sector: Ổ cứng hoạt động liên tục 24/7 nên tuổi thọ sẽ giảm dần, dẫn đến hỏng hóc khiến đầu ghi hình không thể ghi dữ liệu lên đó. Thứ hai, cáp tín hiệu, cáp nguồn kết nối giữa ổ cứng và bo mạch của đầu ghi hình bị lỏng, đứt hoặc rỉ sét khiến đầu ghi không nhận diện được ổ cứng. Thứ ba, Ổ cứng chưa được định dạng (Format): Khi mới lắp ổ cứng vào đầu ghi, nếu chưa được định dạng theo đúng chuẩn hệ tập tin của đầu ghi đó thì sẽ không cho phép lưu dữ liệu. Thứ tư, Ổ cứng đã đầy và tính năng “Ghi đè” (Overwrite) bị tắt.

(2) Đối với việc xóa một phần dữ liệu đã được lưu trữ trong ổ cứng: Hầu hết các hệ thống Camera giám sát chính hãng hiện nay không cho phép người dùng xóa thủ công một phần dữ liệu hoặc một tệp tin cụ thể nào đó. Đây là cơ chế bảo mật nhằm đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu. Chỉ có thể chọn giữ lại tất cả hoặc xóa bỏ tất cả dữ liệu.

Ngày 06/7/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên đã tiến hành làm việc trực tiếp với ông Thùng Văn Nghị - Trưởng Phân trại tạm giam Nà Hỳ, kết quả xác định: Tại thời điểm lúc 17 giờ 15 phút ngày 07/5/2026 và lúc 08 giờ 07 phút ngày 08/5/2026 không có cán bộ, chiến sỹ nào đăng nhập vào đầu ghi và thao tác tắt/bật chế độ lưu Video vào ổ cứng. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên ban hành Công văn số 1180/CV-VPCQCSĐT, đề nghị Phòng Hậu Cần Công an tỉnh Điện Biên cung cấp các thông tin liên quan để phục vụ điều tra vụ án hình sự.

Công văn phúc đáp số 482/KL-KTHS ngày 08/7/2026 của Phòng Hậu Cần Công an tỉnh Điện Biên xác định: Ổ cứng và đầu ghi nêu trên được trang bị mới, đưa vào sử dụng tại Phân trại tạm giam Nà Hỳ từ ngày 05/01/2022. Từ ngày bàn giao, đưa vào sử dụng cho đến nay chưa tiến hành duy tu bảo dưỡng. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên tiếp tục ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 4552/QĐ-VPCQCSĐT, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên giám định Kỹ thuật số và điện tử để xác định ổ cứng nêu trên có bị hỏng vật lý hoặc lỗi Bad Sector không?

Bản kết luận giám định số 822/KL-KTHS ngày 09/7/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: Ổ cứng gửi giám định không bị hỏng vật lý hoặc lỗi Bad Sector.

Ngày 09/7/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 4670/QĐ-VPCQCSĐT, quyết định xử lý tài sản có đặc điểm nêu trên bằng hình thức: Trả lại cho người quản lý hợp pháp là ông Thùng Văn Ngh - Trưởng Phân trại tạm giam N và đã tiến hành trả lại tài sản trên cho ông Thùng Văn Ngh.

Cáo trạng số 69/CT-VKSĐBN-P2 ngày 28/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố Lầu A N để xét xử về tội: Trốn khỏi nơi giam theo quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát khu vực 5-Điện Biên duy trì công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 386, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lầu A N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Đề nghị căn cứ khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt đối với bị cáo; Về án phí, căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Lầu A N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Thùng Văn Ch tại phiên tòa trình bày: Vào 6 giờ 30 phút ngày 08/5/2026, anh Chái là cán bộ trực ban, trực quản giáo tại phân trại tạm giam N, trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên, mở cửa buồng phạm nhân đưa phạm nhân Lầu A N ra quét dọn khu làm việc của phân trại tạm giam Nà H. Đến 6 giờ 40 phút cùng ngày, lợi dụng lúc anh Ch đi vệ sinh thì Phạm nhân Lầu A N đã chạy ra khỏi cổng phân trại rồi nhảy qua tường rào Công an xã Nà Hỳ bỏ trốn, anh Ch lập tức báo cáo chỉ huy phân trại và cùng các đồng chí trong tổ trực truy đuổi Lầu A N. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày khi N đang tìm đón xe khách tại khu vực đường nhựa gần phân trại tam giam N thì bị Tổ công tác phân trại tam giam Nà H phát hiện và đưa về phân trại tam giam N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét hành vi phạm tội và những căn cứ xác định tội danh của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Lầu A N tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người liên quan là cán bộ quản giáo Thùng Văn Ch, phù hợp với biên bản bắt giữ phạm nhân trốn trại hồi 20 giờ 30 phút ngày 08/5/2026, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đã có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Lầu A N là phạm nhân đang chấp hành hình phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Phân trại tạm giam Nà Hỳ thuộc Trại giam Công an tỉnh Điện Biên. Hồi 06 giờ 03 phút ngày 08/5/2026, bị cáo được cán bộ quản giáo trích xuất ra ngoài buồng giam để thực hiện nhiệm vụ lao động vệ sinh. Đến khoảng 06 giờ 40 phút cùng ngày, lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của cán bộ quản giáo trực tiếp quản lý khi đi vệ sinh và cổng phân trại không khóa, bị cáo Lầu A N đã thực hiện hành vi trốn khỏi nơi giam. Bị cáo tự ý mở then chốt cổng sắt, rẽ trái đi đến khu vực tường rào xây rồi trèo, nhảy qua tường rào để lẩn trốn lên khu vực rừng phía sau phân trại. Đến hồi 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi bị cáo đang tìm cách đón xe khách trên đường nhựa gần Phân trại tạm giam Nà H để trốn về tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác phát hiện, bắt giữ.

Bị cáo Lầu A N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức rõ bản thân là người đang chấp hành án phạt tù, phải chịu sự quản lý, giám sát nghiêm ngặt của cơ sở giam giữ theo quy định của pháp luật, nhưng do tư tưởng lười cải tạo, muốn trốn tránh nghĩa vụ chấp hành án để về nhà nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi bỏ trốn. Hành vi nêu trên của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan thi hành án hình sự, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương và kỷ cương pháp luật của Nhà nước. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trốn khỏi nơi giam” quy định tại khoản 1 Điều 386 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản viện dẫn trong Cáo trạng số 69/CT-VKSĐBN -P2 ngày 28/7/2026 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo Lầu A N là người có nhân thân xấu, năm 2019 bị Tòa án nhân dân Thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên xử phạt 36 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, ngày 02/7/2021 chấp hành xong hình phạt của bản án này và đã được xóa án tích. Ngày 25/10/2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/10/2024, chưa được xóa án tích). Ngày 03/02/2026, bị cáo bị Tòa án nhân dân khu vực 1-Điện Biên xử phạt 01 năm 06 tháng tù cũng về tội Trộm cắp tài sản (đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng "Tái phạm"), bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Tái phạm nguy hiểm" đối với bị cáo được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về hình phạt đối với bị cáo:

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo Lầu A N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên cần xử phạt bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát. Do bị cáo phạm tội mới trong khi đang chấp hành hình phạt tù, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của Bản án số 43/2026/HS-ST ngày 03/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Điện Biên.

Đối với hành vi thiếu trách nhiệm của Chỉ huy, Cán bộ quản giáo Phân trại tạm giam Nà Hỳ để xảy ra sự việc phạm nhân Lầu A N là người đang chấp hành án phạt tù trốn khỏi nơi giam, giữ: Quá trình điều tra vụ án, xác định không đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Thiếu trách nhiệm để người đang chấp hành án phạt tù trốn”, quy định tại Điều 376 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 nên không đề cập xử lý trong vụ án. Đối với các vi phạm này, ngày 10/7/2026 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên đã ban hành văn bản báo cáo Ban Giám đốc Công an tỉnh Điện Biên xem xét, xử lý theo đúng quy định của Bộ Công an.

Đối với nội dung “Camera có mắt quay ra hướng sân và sảnh nơi phạm nhân Lầu A Nụ dọn vệ sinh và bỏ trốn vào lúc khoảng 06 giờ 40 phút ngày 08/5/2026 hoạt động bình thường nhưng không có dữ liệu lưu trữ trong ổ cứng": Không đủ cơ sở kết luận nguyên nhân xảy ra tình trạng này là xuất phát từ các nguyên nhân khách quan hay chủ quan, do đó HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên đã tạm giữ 01 ổ cứng màu bạc, nhãn hiệu SEAGATE, dung lượng 4TB phục vụ công tác giám sát ghi hình tại Phân trại tạm giam Nà Hỳ. Xét thấy đây là tài sản thuộc quyền quản lý hợp pháp của Phân trại, ngày 09/7/2026 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ban hành Quyết định số 4670/QĐ-VPCQCSĐT trả lại ổ cứng trên cho ông Thùng Văn Nghị - Trưởng Phân trại tạm giam Nà Hỳ. Việc xử lý tài sản này trong giai đoạn điều tra là hoàn toàn đúng theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với các đoạn video trích xuất ghi hình diễn biến bên trong buồng giam và kết luận giám định kỹ thuật số liên quan đã được chuyển theo hồ sơ vụ án, đây là tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo Lầu A N. Do đó, cần tiếp tục lưu giữ, bảo quản trong hồ sơ vụ án.

Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí, căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật TTHS, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 386, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025); khoản 2 Điều 136, Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lầu A N phạm tội "Trốn khỏi nơi giam".

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Lầu A N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án số 43/2026/HS-ST ngày 03/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Điện Biên là 11 tháng 20 ngày (đối với bản án này bị cáo đã chấp hành được 06 tháng 10 ngày, bị cáo còn phải chấp hành là 11 tháng 20 ngày). Tổng hợp hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là: 01 năm 06 tháng + 11 tháng 20 ngày = 02 (hai) năm 05 (năm) tháng 20 (hai mươi) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 08/5/2026).

3. Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/8/2026); Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/8/2026).

Cỡ chữ