- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quách Văn P - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025 xử phạt bị cáo Quách Văn P 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm …
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2026/HS-ST Ngày: 17/9/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử gồm:
Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Yến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Bá Toàn và ông Bùi Văn Sâm.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thị Hảo - Thư ký TAND khu vực 15 - Phú Thọ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quang Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 17/9/2026, mở phiên tòa công khai tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15
- Phú Thọ, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 80/2026/TLST- HS ngày 26/8/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2026/QĐXXST-HS ngày 04/9/2026 đối với bị cáo:
Họ tên: Quách Văn P, tên gọi khác: Không, sinh ngày 01/01/1983 tại xã N, tỉnh Phú Thọ; Nơi thường trú: Xóm S, xã N, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc Mường; giới tính Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quách Văn D, sinh năm 1956, con bà: Quách Thị D1, sinh năm 1958; Bị cáo là con thứ ba trong gia đình; có vợ là Bùi Thị T, sinh năm 1984 và 02 con.
+ Tiền án: Không
+ Tiền sự: Có 02 tiền sự.
+ Ngày 20/8/2020 bị Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình (nay là Toà án nhân dân khu vực 15, tỉnh Phú Thọ) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng (theo Quyết định số 04/QĐ-TA. Đến ngày 16/8/2024 chấp hành xong QĐ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (chưa được xoá tiền sự).
+ Ngày 27/01/2026 bị Công an xã N, tỉnh Phú Thọ xử phạt 1.500.000 đồng về hành Đánh bạc theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14/QĐ-XPHC ngày 27/01/2026 (Chưa được xoá tiền sự). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/7/2026, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3 - Công an tỉnh P, được trích xuất có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Quách Văn P, sinh năm 1983, HKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm S, xã N, tỉnh Phú Thọ là đối tượng nghiện chất ma tuý, hiện đang thuộc đối tượng quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú theo Quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú số 12/QĐ-UBND ngày 18/8/2024 của UBND xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình (cũ) và Quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú số 399/QĐ-UBND ngày 11/9/2025 của UBND xã N, tỉnh Phú Thọ, kể từ ngày 18/8/2024 đến ngày 18/8/2026.
Bị cáo P hiện đang đi làm thuê tại xã G, thành phố Hà Nội từ khoảng tháng 5 năm 2026. Chiều tối ngày 28/6/2026, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma tuý nên bị cáo đã đến khu vực gần chỗ làm tại xã G, thành phố Hà Nội để tìm mua ma tuý. Tại đây P gặp một người đàn ông không quen biết, không rõ đặc điểm cụ thể (chỉ nhớ người này đeo khẩu trang, mặc quần áo chống nắng màu đen trùm đến cổ, đội mũ lưỡi trai, đeo khẩu trang, dáng người cao, gầy), qua trao đổi P hỏi mua và được người này đồng ý bán cho 01 (một) gói ma tuý với giá 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng). Mua được ma tuý, P đi vào khu vực không có người qua lại ở ven đường gần đó để sử dụng ma tuý. Tại đây Phóng xé giấy bạc từ bao thuốc lá và cho số ma tuý mua được vào giấy bạc, bật lửa đốt và hít trực tiếp vào cơ thể sử dụng ma tuý xong Phóng đốt giấy bạc, bao thuốc và vứt bật lửa tại chỗ rồi đi về chỗ ở trọ. Sáng ngày 29/6/2026 Quách Văn P bắt xe khách về nhà tại xóm S, xã N, tỉnh Phú Thọ.
Đến khoảng 08 giờ 10 phút, ngày 30/6/2026, Quách Văn P bị Công an xã N, tỉnh Phú Thọ mời đến trụ sở làm việc. Quá trình làm việc, kiểm tra, tiến hành xét nghiệm ma tuý bằng que test nhanh nước tiểu, kết quả mẫu nước tiểu của Quách Văn P dương tính với chất ma tuý OPI (Heroine). Cơ quan Công an đã tiến hành thu mẫu và niêm phong nước tiểu của Quách Văn P để tiến hành trưng cầu giám định theo đúng quy định của pháp luật.
Tại bản Kết luận giám định số 3803/KL-KTHS ngày 01/7/2026 của Phòng K Công an tỉnh P, kết luận: “Trong dung dịch màu vàng (nước tiểu) trong trai nhựa dán giấy niêm phong có ghi Mẫu nước tiểu của Quách Văn P, sinh năm 1983, nơi thường trú Xóm S, xã N, tỉnh Phú Thọ thu mẫu ngày 30/6/2026 gửi giám định tìm thấy chất ma tuý, loại Morphine.
Morphine có trong sản phẩm chuyển hoá của H trong cơ thể.
Morphine có số thứ tự 81, danh mục IIA, Nghị định số 28/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026 của Chính Phủ.
Heroin có số thứ tự 14, danh mục IA, Nghị định số 28/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026 của Chính Phủ”. (BL 08).
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã thu giữ 01 (một) mẫu nước tiểu được niêm phong trong chai nhựa và có dán giấy niêm phong có dấu, chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong. Cơ quan giám định đã sử dụng hết số mẫu trên.
Cáo trạng số 52/CT-VKSPTO - KV15 ngày 25/8/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ truy tố Quách Văn P về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017,2024, 2025).
Tại phiên tòa sơ thẩm, VKS giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Quách Văn P từ 26 tháng đến 32 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng đã truy tố, không kêu oan, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái nhưng do chưa từ bỏ được ma tuý mà phạm tội. Bị cáo xin được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để có cơ hội sớm trở về với gia đình.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra; kết quả tranh luận tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là hợp pháp. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Về chứng cứ kết tội bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an xã N, tỉnh Phú Thọ thu thập hợp pháp gồm: Biên bản xét nghiệm chất ma túy, biên bản thu mẫu giám định, Kết luận giám định, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 04/QĐ-TA ngày 16/8/2024; Quyết định quản lý sau cai nghiện số 12/QĐ-UBND ngày 18/8/2024 của UBND xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình nay là xã N, tỉnh Phú Thọ. Kết quả giám định cho thấy bị cáo P vẫn sử dụng ma tuý trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy. Biên bản hỏi cung bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa.
Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, là mầm mống dẫn đến các tệ nạn, gây mất trật tự an toàn xã hội; tính chất tội phạm tuy ít nghiêm trọng, nhưng bị cáo có 02 tiền sự chưa được xoá về biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy. Do đó phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội với một thời gian tương xứng, đủ để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ mẫu nước tiểu được niêm phong trong chai nhựa, sau khi giám định đã sử dụng hết mẫu vật và xuất hủy chai nhựa, một mặt có ghi “Mẫu nước tiểu của Quách Văn P, sinh năm 1983, nơi thường trú: xóm S, xã N, tỉnh Phú Thọ thu mẫu ngày 30/6/2026” có 01 dấu điểm chỉ ghi “Điểm chỉ ngón trỏ phải Quách Văn P” và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng dấu tròn đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P. Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025 xử phạt bị cáo Quách Văn P 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (Ngày 02/7/2026). 2. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo phúc thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ - THADS tỉnh Phú Thọ; - Phòng hồ sơ -Công an tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 15 - Phú Thọ - Bị cáo; - Lưu HSVA + HSTHAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hà Thị Yến |