vanban.org

Bản án 96/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 27/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên b : Bị cáo Trương Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạ : Bị cáo Trương Quốc V mức án 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/12/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trương Quốc V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ G
TỈNH KIÊN GIANG
____________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2025/HS-ST
Ngày: 27 - 03 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ ng Nguyễn Qu c Hoàng

2/ Ông Tr n Trung D ng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: ng Tiêu Thanh B nh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 64/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 03 năm 2025, đối với bị cáo:

Trương Qu c V, sinh ngày 10/05/1999. Tại TP G, tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú và ch ở hiện nay: Lô 6, tổ 15 khu phố V, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn L và bà Nguy n Thị T; Anh, chị em ruột: 05 người: lớn nhất sinh năm 1989, nh sinh năm 1999; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 19/12/2024 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người chứng kiến: ng Trương Tấn T, sinh năm 1996 V ng m

Địa chỉ: Số 120/8 đường T1, phường Q, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bản thân Trương Quốc V bắt đầu sử dụng ma tuý từ khoảng đầu năm 2023 (loại ma tuý đá) khoảng nữa tháng đến 30 ngày sử dụng 01 lần. Nguồn ma tuý V sử dụng là được bạn b ngoài xã hội cho. Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 19/12/2024, V đến khu vực đường Lâm Quang Ky, phường Đống Đa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang gặp người đàn ông tên Giá không r tên, địa chỉ để mua 01 bịch ma tuý với giá 230.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý V b vào trong túi áo phía trước bên phải đang mặc rồi đi bộ đến khu vực ngã ba Nguy n Trung Trực, Nguy n Văn Cừ, phường V nh Lạc, thành phố Rạch Giá vào lúc 17 giờ cùng ngày thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma tuý Công an thành phố Rạch Giá kết hợp Công an phường V nh Lạc bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý đối với Trương Quốc V và thu giữ 01 (một bịch ny lon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa các hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất (V khai là ma tuý đá . Ngoài ra V khai nhận trước đó mua của Giá 02 lần, m i lần 01 bịch ma tuý đá với giá 200.000 đồng và 150.000 đồng. Đến ngày 26/12/2024, Vỹ bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố, tạm giam để điều tra.

Bị cáo Trương Quốc Vỹ đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Trương Quốc V đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

* Vậ chứng của vụ án:

- 01 một bịch ny lon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa các hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất Bút lục 18).

* Tại bản kế luận giám định s 1434/KL-KTHS ngày 23 tháng 12 năm 2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang xác định:

- Các hạt chất rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 (một bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2273 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

* Theo bản cáo rạng s : 95/CT-VKSRG ngày 28/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Trương Quốc Vỹ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G và bản cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trương Quốc V mức án từ 12 (M i hai) thán đến 18 (M i tám) tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu, tiêu hủy: 01 một phong bì niêm phong mẫu vật, có ký hiệu vụ số 1506/2024 ngày 26 tháng 12 năm 2024, có chữ ký của Giám định viên Thái Thị Thanh Thu , người chứng kiến Lê Thanh Toàn và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang. (Vật chứng đã được nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1452, ngày 27/12/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố G).

Về trách nhiệm dân sự: Không.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin được khoan hồng để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên toà hôm nay bị cáo Trương Quốc V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu; lời nhận tội trên phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, của những người tham gia tố tụng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 18/12/2024 tại khu vực ngã ba Nguy n Trung Trực – Nguy n Văn Cừ, phường V nh Lạc, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma tuý Công an thành phố Rạch Giá kết hợp Công an phường V nh Lạc bắt quả tang Trương Quốc V tàng trữ trái phép chất ma tuý, thu giữ trong túi áo phía trước, bên phải V đang mặc 01 một bịch ny lon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa các hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất. Qua giám định là chất ma tuý loại Methamphetamin có khối lượng 0,2273 gam). Mục đích bị cáo cất giấu ma tuý là để sử dụng không nhằm mục đích khác.

Từ những chứng cứ đã nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Trương Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét về tính chất mức độ phạm tội của bị cáo xảy ra rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện tội phạm có ý thức và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do xuất phát từ việc nghiện ma túy và muốn có ma túy sử dụng mà bị cáo đã bất chấp lao vào con đường phạm tội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về trật tự quản lý các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến sự ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương và là điều kiện để làm phát sinh tội phạm khác. Qua xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo mức án tương xứng bằng hình phạt tù có thời hạn, giam giữ bị cáo trong thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 một phong bì niêm phong mẫu vật, có ký hiệu vụ số 1506/2024 ngày 26 tháng 12 năm 2024, có chữ ký của Giám định viên Thái Thị Thanh Thu , người chứng kiến Lê Thanh Toàn và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

Xét đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G đề nghị tại bản luận tội đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Đối với người tên Giá là người bán ma tuý cho bị cáo V hiện chưa xác định được tên thật, địa chỉ nên đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G, tỉnh Kiên Giang tiếp tục điều tra, làm r khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên b : Bị cáo Trương Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạ : Bị cáo Trương Quốc V mức án 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/12/2024.

Về xử lý vậ chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu tiêu hủy: 01 một phong bì niêm phong mẫu vật, có ký hiệu vụ số 1506/2024 ngày 26 tháng 12 năm 2024, có chữ ký của Giám định viên Thái Thị Thanh Thu , người chứng kiến Lê Thanh Toàn và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 67/QĐ-VKS ngày 28/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang .

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm n hìn đồn ) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 27/03/2025). * Nơi nhận:

Cỡ chữ