- Tranh chấp gì? án hình sự — "D phạm tội vi phạm an toan giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2025/HS-ST Ngày 27 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Sang và bà Vũ Thị Dinh.
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hảo - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Long - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2025/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Vũ Đức D, sinh ngày 12/5/19xx; nơi cư trú: thôn C, xã Q, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; số căn cước công dân: 034087002972; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đức Phao và chị Phạm Thị Pha; có vợ là Lê Thị Huyền và 02 con sinh năm 2014 và 2024. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện hợp pháp của bị hại (bị hại là Hoàng Tuấn A đã chết).
- Ông Hoàng Hữu Đ, sinh năm 1966 (Là bố anh Hoàng Tuấn A) (Vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 19xx (Là bố anh Hoàng Tuấn A) (Vắng mặt)
Đều có địa chỉ Thôn H, xã D, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình.
* Người làm chứng:
Ông Vũ Văn Hiển, sinh năm 19xx (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Tô Đàm, xã An Mỹ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 07/4/2025, tại km35 + 800 đường ĐT455 thuộc địa phận thôn Thanh Do, xã Thụy Thanh, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình, là khu vực ngã tư giao nhau giữa đường ĐT455 với đường liên xã Thụy Thanh đi xã Thụy Dên, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, đoạn đường thẳng hai chiều, tầm nhìn bị hạn chế, mặt đường xe chạy rộng 8,0m được trải nhựa apphan, phẳng, nhẵn, trên mặt đường xe chạy có vạch sơn vàng đứt quãng, có gờ giảm tốc phía trước đường giao nhau, vạch mắt võng kép, có biển báo giao nhau với đường không ưu tiên về hai phía và biển báo đi chậm. Vũ Đức D điều khiển xe ô tô tải, biển kiểm soát 17C – 144.35, có giấy phép lái xe hạng C theo quy định, trên đường ĐT 455 theo hướng từ xã Thuỵ Thanh, huyện Thái Thuỵ đi xã Đồng Tiến, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, với tốc độ khoảng 50km/h. Khi đi đến khu vực ngã tư giao nhau nêu trên do không chấp hành biển báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ hoặc dừng lại đảm bảo an toàn nên phần đầu bên trái xe ô tô do D điều khiển đã đâm va vào phần đầu phía bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 17B6 – 385.84 do anh Hoàng Tuấn A, sinh năm 1996, trú tại thôn Hoá Tài, xã D, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, điều khiển theo hướng từ thôn Thanh Do, xã Thụy Thanh đi thôn Hóa Tài, xã Thụy Dên (từ bên trái sang bên phải theo hướng đi của D). Hậu quả: anh Hoàng Tuấn A tử vong tại hiện trường do chấn thương sọ não.
Bản kết luận giám định tử thi số 339/KLGĐTT-KTHS ngày 29/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình kết luận nạn nhân Hoàng Tuấn A bị vỡ xương sọ vùng chẩm thái dương trái nằm ngang, chảy máu não chết do chấn thương sọ não.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Bản cáo trạng số 101/CT-VKSTT ngày 16/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Vũ Đức D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
Về tội danh: Bị cáo Vũ Đức D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65; Điều 50 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Đức D từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm kể từ ngày tuyên án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí.
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tố tụng, của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền,trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến đề nghị, khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 07/4/2025, tại khu vực ngã tư giao nhau giữa đường ĐT455, huyện Thái Thụy với đường liên xã Thụy Thanh đi xã Thụy Dên, huyện Thái Thụy. Vũ Đức D điều khiển xe ô tô tải, biển kiểm soát 17C – 144.35, có giấy phép lái xe hạng C theo quy định, theo hướng từ đường ĐT 455 xã Thuỵ Thanh, huyện Thái Thuỵ đi xã Đồng Tiến, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, với tốc độ khoảng 50km/h. Khi đi đến khu vực ngã tư nêu trên do không chấp hành biển báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ hoặc dừng lại đảm bảo an toàn nên phần đầu bên trái xe ô tô do D điều khiển đã đâm va vào phần đầu phía bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 17B6 – 385.84 do anh Hoàng Tuấn A, sinh năm 1996, trú tại thôn Hoá Tài, xã D, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, điều khiển theo hướng từ thôn Thanh Do, xã Thụy Thanh đi thôn Hóa Tài, xã Thụy Dên (từ bên trái sang bên phải theo hướng đi của D). Hậu quả: anh Hoàng Tuấn A tử vong tại hiện trường do chấn thương sọ não. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Đức D đã vi phạm điểm c, d khoản 2 Điều 11; điểm b khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả làm chết 01 người. Hành vi đó đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Luật trật tự,an toàn giao thông đường bộ quy định:
Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ
1…
2. Người tham gia giao thông đường bộ phải chấp hành báo hiệu đường bộ theo thứ tự ưu tiên từ trên xuống dưới như sau:
…
c) Biển báo hiệu đường bộ;
d) Vạch kẻ đường và các dấu hiệu khác trên mặt đường;
Điều 12. Chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe
1 .Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải chấp hành quy định về tốc độ, khoảng cách an toàn tối thiểu với xe phía trước cùng làn đường hoặc phần đường.
…
3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong các trường hợp sau đây:
a) …
b) Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường;
Điều 260 Bộ luật Hình sự: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm…
a) Làm chết người.
……………………
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại; bị hại có một phần lỗi dẫn đến tai nạn; gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ trên địa bàn huyện. Do đó cần phải quyết định 01 hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi bị cáo gây ra. Tuy nhiên, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Mặt khác, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có công việc ổn định, có khả năng tự cải tạo bản thân nên cần cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa vi phạm chung. Bị cáo phạm tội lần đầu và có một phần lỗi của bị hại nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: 01 xe ô tô tải thùng nhãn hiệu TERACO, sơn màu xanh, biển kiểm soát 17C – 144.35. Kết quả điều tra xác định chiếc xe ô tô trên đăng ký tên Bùi Văn Phúc (là anh rể của Vũ Đức D) bán cho D từ tháng 02/2025; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda RSX, màu sơn màu đỏ đen, biển kiểm soát 17B6-385.84 là tài sản của anh Hoàng Tuấn A nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Vũ Đức D và đại diện bị hại là bà Nguyễn Thị L 02 phương tiện nêu trên là phù hợp. Tại phiên tòa trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C số 300243023685 do Sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dương cấp ngày 13/11/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Vũ Đức D đã thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại 120.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường. Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm bất cứ khoản chi phí nào khác nên cần ghi nhận việc bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và gia đình bị hại.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong phần dân sự trong quá trình điều tra nên bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đức D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Đức D 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/6/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Giao bị cáo Vũ Đức D cho Uỷ ban nhân dân xã Q, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 591 Bộ luật Dân sự ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và đại diện gia đình bị hại. Bị cáo bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000 đồng (Bị cáo đã bồi thường xong).
4. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tại phiên tòa trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C số 300243023685 do Sở giao thông vận tải Thái Bình cấp ngày 13/11/2024.
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Vũ Đức D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 27/6/2025. Người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Nơi nhận:
| - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp bị hại; - VKSND huyện Thái Thụy và tỉnh Thái Bình; - Cơ quan điều tra, Cơ quan THAHS tỉnh Thái Bình; - UBND xã Q, huyện Quỳnh Phụ; - Chi cục THADS huyện Thái Thụy; - TAND tỉnh Thái Bình; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẤM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Vương |