vanban.org

Bản án 96/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 14/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn Th phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lê Văn Th 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/12/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ VĂN TH - PHẠM TỘI TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 96/2025/HSST
Ngày 14 - 5 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Quân; ông Đinh Văn Kiên

- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thùy Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Lầu Bá Khải - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2025/HSST ngày 01 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn Th, sinh năm 1978, tại huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La;

Nơi cư trú: Bản Thống Nh, xã Chiềng Kh, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt nam; con ông Lê Văn Qh (đã chết) và bà Nguyễn Thị X; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T và 02 con; tiền sự: Không, tiền án: Có 01 tiền án. Ngày 30/3/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2024 cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 20 phút ngày 20/12/2024 tổ công tác Công an xã Chiềng Kh phối hợp với Đồn biên phòng cửa khẩu Chiềng Kh, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ kiểm soát ma túy tại bản Thống Nh, xã Chiềng Kh, huyện Sông Mã, Sơn La. Tổ công tác đến nhà Lê Văn Th là đối tượng bị tố giác sử dụng trái phép chất ma túy để test thử ma túy đối với Th. Khi tổ công tác đến nhà Th thấy có 02 người đàn ông đang đứng ở sân, thấy tổ công tác đến thì một người đã bỏ chạy, người đàn ông còn lại là Lê Văn Th, theo Th khai nhận người đàn ông bỏ chạy là Cầm Văn V, sinh năm 1978, cư trú tại bản Híp, xã Chiềng Kh, Sông Mã, Sơn La. Quá trình làm việc nghi vấn Th có hành vi vi phạm pháp luật nên tổ công tác yêu cầu Th giao nộp đồ vật, tài liệu liên quan thì Th đã giao nộp 01 túi Nilon màu xanh bên trong có chứa 06 viên nén hình tròn màu hồng, Th khai nhận là Hồng phiến vừa mua được của Cầm Văn V, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Văn Th về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ vật chứng niêm phong.

Ngày 21/12/2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đã tiến hành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu giám định, niêm phong mẫu giám định và vật chứng. Kết quả cân tịnh:

Cân tách bì 06 viên nén màu hồng trong túi Nilon màu xanh được tổng khối lượng 0,60 gam. Trích toàn bộ 0,60 gam làm làm mẫu gửi giám định, ký hiệu T.

Kết luận giám định số: 84/KL-KTHS ngày 24/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La. Kết luận:

"Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,60 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,60 gam; Loại Methamphetamine".

Quá trình điều tra bị cáo Lê Văn Th khai nhận hành vi phạm tội như sau: Lê Văn Th sử dụng ma túy từ năm 2016 và có 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích. Ngày 17/12/2024, Th đi từ nhà ở bản Thống Nh đến nhà Cầm Văn V ở bản Híp cùng xã Chiềng Kh, Sông Mã, Sơn La mục đích mua ma túy về sử dụng. Đến nơi Th nói với V là “Khi nào có hàng thì mang cho 200.000đ”, ý Th nói là khi nào có ma túy thì mang đến cho Th 200.000đ thì V đồng ý, sau đó Th quay lại về nhà. Đến khoảng 15 giờ 45 ngày 20/12/2024 khi Th đang ở nhà thì thấy Cầm Văn V đi vào nhà và đưa cho Th 01 túi Nilon màu xanh bên trong có chứa 07 viên Hồng phiến, Th cầm số ma túy trên rồi lấy tiền trong túi áo ra 200.000đ đưa cho V. Mua được ma túy Th lấy ra 01 viên sử dụng bằng hình thức đốt hít qua đường hô hấp vào cơ thể, còn V thì ngồi ở ghế. Sử dụng ma túy xong Th và V đi ra ngoài sân thì thấy tổ công tác Công an xã Chiềng Kh và Đồn biên phòng cửa khẩu Chiềng Kh đến kiểm tra, V bỏ chạy thoát, còn Th không kịp chạy. Tổ công tác yêu cầu Th nếu có đồ vật, tài liệu vi phạm pháp luật thì đem ra giao nộp thì Th đã lấy túi Nilon màu xanh bên trong có chứa 06 viên hồng phiến giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Cáo trạng số 66/CT-VKSSM ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử bị cáo Lê Văn Th về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn Th đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn Th phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn Th từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù;

Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Lê Văn Th không có ý kiến gì đối đáp với lời luận tội của Kiểm sát viên, khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cở sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên và Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 20/12/2024 bị cáo Lê Văn Th đã có hành vi tàng trữ 0,60 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn Nh trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; phát biểu luận tội của của Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị mức xử phạt tù giam đối với bị cáo về tội danh nêu trên là phù hợp, có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi mà bị cáo Lê Văn Th thực hiện đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Về tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm điều cấm của pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật, vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ nhằm mục đích sử dụng; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian Nh định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội cũng như công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về các vấn đề có liên quan: Về nguồn gốc số ma túy thu giữ trong vụ án, theo lời khai của Lê Văn Th mua được của Cầm Văn V, sinh năm 1978, cư trú tại bản Híp, xã Chiềng Kh, Sông Mã, Sơn La vào ngày 20/12/2024 với số tiền 200.000đ. Quá trình điều tra vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh lý lịch, thu thập ảnh của Cầm Văn V cho bị cáo nhận dạng. Kết quả bị cáo đã nhận dạng được và khẳng định Cầm Văn V là người đã bán ma túy cho bị cáo. Cơ quan CSĐT đã nhiều lần triệu tập Cầm Văn V đến để làm việc nhưng Cầm Văn V đều vắng mặt tại địa phương, gia đình, chính quyền địa phương không nắm được V đang ở đâu. Ngoài lời khai của bị cáo chưa có đủ căn cứ để ra Quyết định khởi tố bị can đối với Cầm Văn V. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La đã ra Quyết định truy tìm đối với Cầm Văn V, khi tìm được sẽ đấu tranh làm rõ và có hình thức xử lý V theo quy định của pháp luật là có căn cứ cần chấp nhận.

Vật chứng của vụ án: Số ma túy thu giữ đã sử dụng hết làm mẫu giám định, 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 01 túi nilon màu xanh được đưa vào hồ sơ vụ án.

Về án phí: Bị cáo Lê Văn Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Lê Văn Th phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lê Văn Th 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/12/2024.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội. Bị cáo Lê Văn Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/5/2025).

Cỡ chữ