vanban.org

Bản án 96/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 06/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

17; Điều 58 Bộ luật hình sự

Tuyên bố: Đoàn Anh T và Bùi Văn M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất Xử phạt: Đoàn Anh T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Anh T - tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? 17; Điều 58 Bộ luật hình sự
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH ------------* * *-------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 96/2023/HSST

Ngày: 06/04/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hồng Ninh Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Kền 2. Bà Phạm Thị Hiền Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Sơn Tùng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh t ham gia phiên toà: Bà Nguyễn Phương Huyền – Kiểm sát viên. Trong ngày 06 tháng 4 năm 2023, tại phòng xét xử số I Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2023/TLST - HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2023/QĐXXST - HS ngày 23/3/2023 đối với các bị cáo: 1. Họ và tên: Đoàn Anh T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 04/7/1984, tại tỉnhQuảng Ninh; Nơi cư trú:Tổ 5, khu T 6, phường H B, thành phố H L, tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc:Kinh; Tôn giáo: Không; Đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Đoàn Mạnh X (Đã chết); Họ và tên mẹ: Hoàng Thị H - Sinh năm: 1953; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 26/4/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long quyết định biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 26/12/2021. Nhân thân: Ngày 05/9/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/11/2009.Chấp hành xong phần thi hành án dân sự ngày 27/7/2009. Bị cáo Đoàn Anh T bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh – Có mặt. 2. Họ và tên: Bùi Văn M; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 02/5/1983, tại tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: Tổ 4, khu V Y, phường V H, thành phố H L, tỉnh Quảng Ninh;

Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc:Kinh; Tôn giáo: Không; Đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Bùi Văn S (Đã chết); Họ và tên mẹ: Đinh Thị L - Sinh năm: 1961; Họ và tên vợ: Hà Thị L1 – Sinh năm: 1984 (Đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2011. Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 26/11/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long quyết định biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 10/3/2022. Nhân thân: - Ngày 16/11/2007, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2010. Chấp hành xong phần thi hành án dân sự ngày 14/3/2008, - Ngày 15/6/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Hoành Bồ (nay là thành phố Hạ Long) xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2017. Chấp hành xong phần thi hành án dân sự ngày 29/7/2015. - Ngày 18/5/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/6/2019. Chấp hành xong phần thi hành án dân sự ngày 03/5/2019. Bị cáo Bùi Văn M bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh – Có mặt. - Người chứng kiến: + Anh Nguyễn Văn T1 – Vắng mặt + Anh Nguyễn Văn Ph – Vắng mặt NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 15/12/2022 , tại đoạn đường thuộc Quốc lộ 279, tổ 6, khu Vạn Yên, phường Việt Hưng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Đoàn Đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1 Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển phối hợp với Công an phường Việt Hưng, thành phố Hạ Long phát hiện, bắt quả tang Đoàn Anh T và Bùi Văn M có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng: thu giữ tại túi áo bên phải T đang mặc có 01 (một) gói giấy màu vàng, không rõ hình dạng kích thước, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục (kí hiệu M1); thu tại túi quần bò bên phải phía trước của M đang mặc có 03 (ba) gói giấy không rõ hình dạng kích thước gồm 02 (hai) gói giấy màu vàng và 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất bột màu trắng dạng cục (kí hiệu M2.1; M2.2; M2.3). Ngoài ra thu giữ của T 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO màu đỏ; thu giữ của M 01 (một) điện thoại nhãn hiệu APPLE màu bạc và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Itel. Tại Kết luận giám định số 1997/KL-KTHS, ngày 19/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật kí hiệu M1, M2.1,

M2.2, M2.3 gửi giám định là ma túy, loại Heroine. Khối lượng như sau: M1: 1,885 gam (Một phẩy tám tám năm gam); M2.1: 0,385 gam (Không phẩy ba tám năm gam); M2.2: 0,389 gam (Không phẩy ba tám chín gam); M2.3: 0,191 gam (Không phẩy một chín một gam). Tổng khối tượng từ M2.1, M2.2 và M2.3 là 0,965 gam (Không phẩy chín sáu năm gam). Quá trình điều tra, và tại phiên tòa Đoàn Anh T khai: Do bản thân nghiện ma túy nên bị cáo thường xuyên sang nội thành Hải Phòng mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 15/12/2022, bị cáo gọi điện cho Bùi Văn M, là người có mối quan hệ bạn bè và cùng là đối tượng sử dụng ma túy với bị cáo, bị cáo rủ M cùng đi sang thành phố Hải Phòng mua ma túy về để sử dụng và M đồng ý. Sau đó bị cáo đi xe ôm đến khu vực ngã tư Vạn Yên, phường Việt Hưng thì gặp M, bị cáo và M thống nhất với nhau đi xe Taxi sang Hải Phòng, tiền xe mỗi người chịu một nửa, còn tiền mua mua túy thì tiền của ai người đó mua, bị cáo tiếp tục gọi xe taxi của hãng Đông Cường, do anh Ph nhà ở gần nhà bị cáo điều khiển đến đón bị cáo. Khi xe đến đón, bị cáo nói với anh Ph là chở bị cáo và M sang nội thành Hải Phòng để chơi, rồi cùng với M đi xe sang thành phố Hải Phòng. Khi đi đến ngõ 30 đường Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng thì xe taxi dừng lại, bị cáo thấy M trả cho anh Ph số tiền 800.000đ là tiền xe taxi hai chiều và bảo anh Ph đợi khoảng 20 phút, sau đó bị cáo và M đi bộ vào ngõ để hỏi mua ma túy. Tại đây, bị cáo và M gặp 01 người phụ nữ không quen biết, bị cáo hỏi mua ma túy của người phụ nữ đó với giá 1.000.000đ (Một triệu đồng), người phụ nữ nhận tiền của bị cáo và lấy từ trong người ra đưa cho bị cáo 01 gói giấy màu vàng, không rõ hình dạng kích thước, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục là ma túy loại Heroine bị cáo cần mua, sau khi nhận ma túy bị cáo cất giấu vào túi áo bên phải bị cáo đang mặc. Tại đây, bị cáo thấy M cũng hỏi mua ma túy của người này, nhưng bị cáo không biết M mua bao nhiêu tiền ma túy, sau khi M mua xong, bị cáo và M đi ra xe taxi để đi về thành phố Hạ Long. Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 15/12/2022, khi về đến đoạn đường thuộc Quốc lộ 279, tổ 6, khu Vạn Yên, phường Việt Hưng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, thì bị cơ quan chức năng phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại túi áo bên phải bị cáo đang mặc có 01 (một) gói giấy màu vàng, không rõ hình dạng kích thước, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO màu đỏ. Thu giữ của M 03 (ba) gói giấy không rõ hình dạng kích thước, M để trong túi quần bò bên phải phía trước của M đang mặc, gồm 02 (hai) gói giấy màu vàng và 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất bột màu trắng dạng cục và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu APPLE màu bạc và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Itel. Bị cáo thừa nhận 01(một) gói giấy màu vàng, không rõ hình dạng kích thước, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục bị thu giữ, đúng là của bị cáo, bị cáo mua về với mục đích để sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, thừa nhận bản thân được chứng kiến việc niêm phong vật chứng và trực tiếp ký tên vào biên bản niêm phong và không có ý kiến gì khác đối với kêt luận giám định. Khi thuê xe taxi, bị cáo chỉ nói với anh Ph là chở bị cáo đi Hải phòng chơi, anh Ph không biết việc bị cáo và M đi Hải phòng để mua ma túy, trong số tiền 800.000đ bị cáo M trả tiền thuê xe, bị cáo có góp một nửa

là 400.000đ. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ gắn sim số 0936.613.136 là của bị cáo, bị cáo dùng để liên lạc hàng ngày, và liên lạc với bị cáo M rủ đi mua ma túy. Số tiền mua ma túy và trả tiền thuê xe là tiền do bị cáo lao động mà có, thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long truy tố đối với bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện và đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo Bùi Văn M tại phiên tòa, thừa nhận những lời khai của bị cáo Đoàn Anh T khai là đúng với diễn biến, hành vi các bị cáo đã thực hiện kể từ khi bị cáo T rủ bị cáo đi Hải Phòng mua ma túy, đến khi bị cơ quan chức năng phát hiện, bắt giữ. Bị cáo khai tại Hải Phòng, sau khi T mua xong, bị cáo đã hỏi người phụ nữ đó để mua ma túy, bị cáo đưa cho người đó 800.000đ, người phụ nữ đưa cho bị cáo 03 gói giấy không rõ hình dạng kích thước, gồm 02 (hai) gói giấy màu vàng và 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất bột màu trắng dạng cục, là ma túy loại Heroine bị cáo cần mua, sau khi nhận ma túy, bị cáo cất giấu tại túi quần bò bên phải phía trước của bị cáo đang mặc và cùng bị cáo T ra xe đi về thành phố Hạ Long thì bị phát hiện bắt giữ. Trong hai chiếc điện thoại bị thu giữ, bị cáo đã dùng chiếc điện thoại nhãn hiệu APPLE màu bạc, gắn sim số 0968.044.136 để liên lạc với bị cáo T đi mua ma túy, chiếc điện thoại nhãn hiệu Itel gắn sim số 0334.801.596 là của bị cáo, bị cáo dùng để liên lạc hàng ngày. Bị cáo thừa nhận 03(ba) gói giấy không rõ hình dạng kích thước, gồm 02 (hai) gói giấy màu vàng và 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất bột màu trắng dạng cục, không rõ hình dạng kích thước, bị thu giữ, đúng là của bị cáo, bị cáo mua về với mục đích để sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, thừa nhận bản thân được chứng kiến việc niêm phong vật chứng và trực tiếp ký tên vào biên bản niêm phong và không có ý kiến gì khác đối với kêt luận giám định. Số tiền mua ma túy và trả tiền thuê xe là tiền do bị cáo lao động mà có, thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long truy tố đối với bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện và đúng người, đúng tội, không oan. Người chứng kiến anh Nguyễn Văn Ph, anh Nguyễn Văn T1 có lời khai phù hợp với lời khai của các bị cáo T, M về việc anh Ph được thuê chở các bị cáo đi Hải Phòng và về Hạ Long, khi về đến Hạ Long khoảng 12 giờ 10 phút ngày 15/12/2022, tại đoạn đường thuộc Quốc lộ 279, tổ 6, khu Vạn Yên, phường Việt Hưng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh thì bị cơ quan Công an kiểm tra. Tại đây anh T1 được chứng kiến, cơ quan chức năng kiểm tra ba người đàn ông trên một chiếc xe Taxi, sau đó anh mới biết người lái xe tên là Nguyễn Văn Ph, hai người còn lại là Đoàn Anh T và Bùi Văn M. Anh Ph và Anh T1 được chứng kiến thu giữ tại túi áo bên phải bị cáo Tuấn đang mặc có 01 (một) gói giấy màu vàng, không rõ hình dạng kích thước, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục. Thu tại túi quần bò bên phải phía trước của bị cáo M đang mặc 03 (ba) gói giấy, không rõ hình dạng kích thước , gồm 02 (hai) gói giấy màu vàng và 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất bột màu trắng dạng cục. Chứng kiến các bị cáo khai ma túy bị thu giữ là ma túy Heroine, các bị cáo mua về để sử dung, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, thu giữ, chứng kiến cơ quan Công an thu giữ của bị cáo T 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO màu đỏ; thu giữ của bị cáo M 01 (một) điện thoại

nhãn hiệu APPLE màu bạc và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Itel. Chứng kiến việc cơ quan Công an niêm phong vật chứng và ký tên vào biên bản niêm phong. Tại bản cáo trạng số 45/CT – VKSHL ngày 01/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long truy tố Đoàn Anh T, Bùi Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long giữ nguyên quyết định truy tố Đoàn Anh T, Bùi Văn M theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự; Xử phạt Đoàn Anh T từ 24 (hai mươi bốn) tháng tù đến 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 15/12/2022. Xử phạt Bùi Văn M từ 18 (mười tám) tháng tù đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 15/12/2022. - Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. + Tịch thu tiêu hủy: 2,64 gam Heroine mẫu vật hoàn lại sau giám định bên trong phong bì niêm phong số 1997/KL – KTHS của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ kèm 01 sim; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu APPLE màu bạc kèm 01 sim. + Trả lại cho bị cáo M 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Itel kèm theo 01 sim. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự ; Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo Đoàn Anh T, bị cáo Bùi Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của người chứng

kiến, cùng với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 10 phút, ngày 15/12/2022, tại đoạn đường thuộc Quốc lộ 279, tổ 6, khu Vạn Yên, phường Việt Hưng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Đoàn Anh T có hành vi tàng trữ trái phép1,885 gam (Một phẩy tám tám năm gam)ma túy, loại Heroine, bị cáo Bùi Văn M có hành vi tàng trữ trái phép 0,965 gam (Không phẩy chín sáu năm gam)ma túy, loại Heroine, cùng với mục đích để sử dụng thì bị Đoàn Đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1 Bộ Tư Lệnh Cảnh sát biển phối hợp với Công an phường Việt Hưng, thành phố Hạ Long phát hiện, bắt và thu giữ toàn bộ vật chứng. Bị cáo Đoàn Anh T, bị cáo Bùi Văn M có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của nhà nước về chất gây nghiện, làm trầm trọng thêm tình hình tội phạm ma tuý ở địa phương. Bị cáo T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 1,885 gam (Một phẩy tám tám năm gam) ma túy, loại Heroine, bị cáo Bùi Văn M có hành vi tàng trữ trái phép 0,965 gam (Không phẩy chín sáu năm gam) ma túy, loại Heroine, cùng với mục đích để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi phạm tội của bị cáo Đoàn Anh T và bị cáo Bùi Văn M đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…” [3] Viện kiểm sát truy tố bị cáo Đoàn Anh T, bị cáo Bùi Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng qui định của pháp luật. [4] Các bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma tuý và tính trái pháp luật của việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý, nhưng thiếu tu dưỡng bản thân, vì mục đích thỏa mãn nhu cầu cá nhân dẫn đến việc tàng trữ trái phép chất ma túy và phạm tội, vì vậy cần xử phạt các bị cáo nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. [5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Cả hai bị cáo đều có 01 tiền sự bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; cả hai bị cáo đều có nhân thân xấu, bị cáo T 01 lần bị xử phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo M 03 lần bị Tòa án các cấp xử phạt tù về các tội phạm xâm phạm sở hữu và ma túy; Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; [6] Về tích chất, vai trò trong vụ án Đây là vụ án có đồng phạm, cả hai bị cáo đều có vai trò là người thực hành trong việc cùng rủ nhau đi mua ma túy, cùng góp tiền để trả tiền thuê xe, bị cáo T chủ động rủ bị cáo M đi mua ma túy, vì vậy vai trò của bị cáo cao hơn

bị cáo M, nhưng trách nhiệm hình sự của từng bị cáo trong vụ án thì độc lập với nhau, xuất phát từ việc mua và tàng trữ trái phép chất ma túy của từng bị cáo. [7] Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, xét thấy, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. [8] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [9] Về xử lý vật chứng: - 2,64 gam Heroine mẫu vật hoàn lại sau giám định bên trong phong bì niêm phong số 1997/KL – KTHS của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ, kèm theo 01 sim; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu APPLE màu bạc, kèm theo 01 sim là công cụ phạm tội, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. + 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Itel, kèm theo 01 sim, không liên quan đến tội phạm, cần trả lại cho bị cáo M. [10] Về án phí: Bị cáo Đoàn Anh T, bị cáo Bùi Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. [10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự. Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự Tuyên bố: Đoàn Anh T và Bùi Văn M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" Xử phạt: Đoàn Anh T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 15/12/2022. Xử phạt: Bùi Văn M 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 15/12/2022. - Áp dụng: Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. + Tịch thu tiêu hủy: 2,64 gam Heroine mẫu vật hoàn lại sau giám định bên trong phong bì niêm phong số 1997/KL – KTHS của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ, kèm theo 01 sim; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu APPLE màu bạc, kèm theo 01 sim.

+ Trả lại cho bị cáo Bùi Văn M 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Itel, kèm theo 01 sim. Tình trạng vật chứng, tài sản thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 169 ngày 30/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. - Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án Bị cáo Đoàn Anh T, bị cáo Bùi Văn M mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. - Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 331; Khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ