- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phàng Lao C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 37 Bộ luật Hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2023/HS-ST Ngày 22-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Kim Thanh;
Bà Quản Thị Dung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Phàng Lao C, sinh ngày 07/11/1968 tại huyện X, tỉnh H, Lào. Nơi cư trú: Bản N, cụm P, huyện X, tỉnh H, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Lào; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Phàng Lao S và bà Chìa Thị T; có vợ là Thào Thị S1 và 05 con (con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 2012); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2022 cho đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn H1, Luật sư của Văn phòng Luật sư Nguyễn H1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người phiên dịch: Bà Cà Thị D, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Tổ X, phường C1, thành phố S2, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ ngày 27/12/2022, Tổ công tác Công an xã P1, huyện Y, tỉnh Sơn La phối hợp với Đồn biên phòng C2 Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản L 1, xã P1, huyện Y, tỉnh Sơn La phát hiện, bắt quả tang Phàng Lao C đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản phạm tội quả tang đối với Phàng Lao C.
Vật chứng thu giữ: 02 túi nilon (01 túi màu xanh, 01 túi màu hồng) bên trong chứa 378 viên nén màu hồng, nghi là hồng phiến. Ngoài ra còn tạm giữ của C 760.000đ.
Hồi 14 giờ 50 phút ngày 28/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành lập Biên bản mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, trích mẫu để giám định chất ma túy đối với số vật chứng thu giữ, kết quả: Bên trong 02 túi nilon (01 túi màu xanh, 01 túi màu hồng) chứa 378 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 36,78 gam, trích lấy trong mỗi túi 05 viên, tổng 10 viên có khối lượng 0,93 gam, ký hiệu C và C2 làm mẫu trưng cầu giám định chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 122/KL-KTHS ngày 29/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
“- Mẫu gửi giám định ký hiệu C và C2 đều là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của các mẫu gửi giám định là C =0,44 gam; C2 = 0,49 gam.
- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 36,78 gam; Loại Methamphetamine”.
Tại Kết luận giám định số 148/KL-KTHS ngày 30/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận số tiền 760.000 đồng gửi giám định là tiền thật.
Quá trình điều tra, Phàng Lao C khai nhận:
Khoảng 14 giờ ngày 27/12/2022, Phàng Lao C đi lấy củi tại khu vực bản N, cụm P, huyện X, tỉnh H, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, giáp ranh với bản L, xã P1, huyện Y, tỉnh Sơn La thì gặp 02 người đàn ông người Việt Nam không quen biết đến hỏi mua 02 túi hồng phiến, C đồng ý. Hai bên thống nhất giá 02 túi hồng phiến là 1.600.000 đồng. Một người lấy tiền đưa cho C 1.600.000 đồng. Sau khi nhận tiền, C bảo 02 người này chờ C đi lấy ma túy, rồi C đi bộ đến bản P, cụm P, huyện X, tỉnh H, Lào. Tại đường dân sinh, C gặp một người đàn ông quốc tịch Lào không quen biết, C hỏi mua 02 túi hồng phiến, người này đồng ý và nói giá 02 túi hồng phiến là 840.000 đồng. Nhận tiền của C xong, người này đưa cho C 02 túi hồng phiến. Mua bán xong, người đàn ông đi đâu C không biết, còn C cầm số ma túy mua được quay về khu vực biên giới thuộc bản L 1, xã P1, huyện Y, tỉnh Sơn La để giao cho 02 người đàn ông người Việt Nam theo thỏa thuận nhưng chưa kịp giao thì bị phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng thu giữ như đã nêu ở trên.
Về nguồn gốc 36,78 gam ma túy, loại Methamphetamine thu giữ trong vụ án: Phàng Lao C khai mua của người đàn ông quốc tịch Lào không quen biết tại bản P, cụm P, huyện X, tỉnh H, Lào để bán cho 02 người đàn ông Việt Nam.
Do có hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số 56/CTr-VKS-P1 ngày 15/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Phàng Lao C về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo Phàng Lao C thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và không khai báo gì thêm.
* Tranh luận tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Phàng Lao C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Phàng Lao C từ 15 đến 16 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 37 Bộ luật Hình sự: Trục xuất bị cáo Phàng Lao C khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi chấp hành xong hình phạt tù.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu trưng cầu giám định chất ma túy và vỏ gói niêm phong ban đầu; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 760.000 đồng thu giữ của bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Người bào chữa cho bị cáo Phàng Lao C trình bày lời bào chữa nhất trí với cáo trạng truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là người dân tộc thiểu số của Lào, nhận thức, hiểu biết pháp luật phần nào còn hạn chế; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo Phàng Lao C nhất trí với quan điểm của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa cho bị cáo không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo
Ngày 27/12/2022, tại khu vực bản L 1, xã P1, huyện Y, tỉnh Sơn La, Phàng Lao C bị Tổ công tác Công an xã P1, huyện Y, tỉnh Sơn La phối hợp với Đồn biên phòng C2 Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Sơn La phát hiện, bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép 36,78 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để bán kiếm lời.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Tổ công tác Công an xã P1, huyện Y, tỉnh Sơn La lập hồi 15 giờ 10 phút tại bản L, xã P1, huyện Y, tỉnh Sơn La đối với Phàng Lao C cùng vật chứng thu giữ là 02 túi nilon (01 túi màu xanh, 01 túi màu hồng) bên trong chứa 378 viên nén màu hồng, nghi là hồng phiến.
- Biên bản mở niêm phong, cân tịnh, xác định khối lượng, trích mẫu để giám định và niêm phong lại vật chứng lập hồi 14 giờ 50 phút ngày 28/12/2022 tại Phòng Kỹ thuật hình sự (PC 09) Công an tỉnh Sơn La xác định: Bên trong 02 túi nilon (01 túi màu xanh, 01 túi màu hồng) chứa 378 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 36,78 gam.
- Kết luận giám định số 122/KL-KTHS ngày 29/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 36,78 gam; Loại Methamphetamine”.
- Lời khai nhận tội của bị cáo Phàng Lao C tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1989, trú tại: Bản K 1, xã P1, huyện Y, tỉnh Sơn La, là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang đối với Phàng Lao C; phù hợp với khối lượng ma túy thu giữ trong quá trình bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa.
Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phàng Lao C đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.
Về tình tiết định khung hình phạt
Bị cáo Phàng Lao C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép 36,78 gam ma túy, loại Methamphetamine, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “… Methamphetamine … có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo
Hành vi phạm tội của bị cáo Phàng Lao C thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội khu vực biên giới Việt Nam - Lào nên cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo mới bảo đảm biện pháp cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là các tội phạm về ma túy trong giai đoạn hiện nay.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Bị cáo Phàng Lao C có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung
Ngoài hình phạt chính, bị cáo Phàng Lao C còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự nhưng xét bị cáo là người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) mà áp dụng hình phạt bổ sung trục xuất bị cáo khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Hình sự.
Về các đối tượng có liên quan
Đối với người đàn ông quốc tịch Lào, Phàng Lao C khai là người đã bán cho C 02 túi hồng phiến tại bản P, cụm P, huyện X, tỉnh H, Lào: Kết quả điều tra xác định C không biết tên, tuổi, địa chỉ và thông tin gì khác của người đàn ông này. Ngoài lời khai của C thì không còn nguồn tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra xác định không có căn cứ để tiếp tục xác minh, điều tra là đúng quy định.
Đối với 02 người đàn ông Việt Nam, Phàng Lao C khai là người đã đặt mua 02 túi hồng phiến: Kết quả điều tra xác định C không biết tên, tuổi, địa chỉ và thông tin gì khác của 02 người đàn ông này. Ngoài lời khai của C thì không còn nguồn tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra xác định không có căn cứ để tiếp tục xác minh, điều tra là đúng quy định.
Về vật chứng
- Đối với 35,85 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu trưng cầu giám định và vỏ gói niêm phong ban đầu: Xét đây là loại hàng Nhà nước cấm lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 760.000 đồng thu giữ của Phàng Lao C: Xét đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí
Bị cáo Phàng Lao C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 37 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phàng Lao C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Phàng Lao C 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo; áp dụng hình phạt bổ sung trục xuất bị cáo khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi chấp hành xong hình phạt tù.
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
2.1. Tịch thu tiêu hủy: 35,85 gam ma túy, loại Methamphetamine, 01 phong bì giấy niêm phong vật chứng ban đầu, 01 gói nilon màu xanh, 01 gói nilon màu hồng được niêm phong trong một chiếc phong bì do Công an tỉnh Sơn La phát hành còn nguyên niêm phong.
2.2. Đối với vật chứng niêm phong trong 01 (một) chiếc phong bì do Phòng PC 09 Công an tỉnh Sơn La phát hành (khoản 02 Biên bản giao nhận vật chứng), xử lý như sau:
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 760.000 đồng (bẩy trăm sáu nghìn đồng).
- Tịch thu tiêu hủy vỏ phong bì cũ gửi giám định.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 15 giờ 30 phút ngày 09/5/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La)
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Phàng Lao C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 22/6/2023).
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - Cục lãnh sự Bộ Ngoại giao; - VKSND tỉnh Sơn La; - Cục THADS tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Sở Ngoại vụ tỉnh Sơn La; - Phòng PC04 Công an tỉnh Sơn La; - Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La; - Cơ quan hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Sơn La; - Những người tham gia tố tụng; - Phòng KTNV&THA; - Tổ Hành chính tư pháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Minh Hải |