vanban.org

Bản án 96/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Chí Linh, tỉnh Hải Dương Tuyên án 14/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Phùng Văn T 13 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 29/8/2023. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Văn Thành - TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2023/HS - ST
Ngày: 14-12-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thành

Ông Nguyễn Văn Bạn

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Mại Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố C, tỉnh H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở nhà văn hóa khu dân cư B -T, phường C, thành phố C, tỉnh H mở phiên tòa xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 97/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2023/QĐTA ngày 01 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Phùng Văn T, tên gọi khác: không, sinh năm 1968; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Khu dân cư Đ, phường H, thành phố C, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phùng Văn H (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị C; Gia đình có 5 anh em, bị cáo là con thứ 3; Họ tên vợ: Trương Thị Ch (đã ly hôn). Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2003.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Bản án số 127 ngày 31/12/2021 của TAND thành phố C xử phạt Phùng Văn T 17 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 20/9/2021, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2023, chấp hành xong án phí hình sự ngày 16/6/2022.

Nhân thân: Bản án số 02 ngày 18/02/2004 của TAND thành phố C xử Phùng Văn T 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. T đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2005, chấp hành xong phần án phí hình sự ngày 06/7/2004.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/8/2023, đến ngày 31/8/2023 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H.

* Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Quang Nên, sinh năm 1962.

2. Ông Nguyễn Đình Vang, sinh năm 1970.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 29/8/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Phùng Văn T (đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích) đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết từ nhà đến cây xăng “C” thuộc phường S sau đó xuống xe đi bộ vào khu dân cư L, phường C, thành phố C để mua ma túy. Tại đây, T gặp và mua 200.000 đồng tiền ma túy của một người đàn ông rõ nhân thân, lý lịch được 01 gói ma túy. T cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải đi bộ tìm nơi sử dụng. Khoảng 7 giờ 45 phút cùng ngày khi T đi đến trước cửa nhà bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1960 trú tại KDC L, phường C, thành phố C, tỉnh H thì bị lực lượng công an phường C kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại lòng bàn tay phải của T 01 gói giấy bên ngoài bọc giấy vệ sinh màu trắng, bên trong có 01 gói giấy bạc kích thước (0,5x1)cm chứa chất bột màu trắng, được niêm phong trong bì thư. T khai chất bột màu trắng bên trong gói giấy là ma túy, T mua về để sử dụng cho bản thân.

Kết luận giám định số 410 ngày 31/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong gói giấy bạc được niêm phong trong phong bì ghi thu của Phùng Văn T gửi giám định có khối lượng 0,067 gam là ma túy, loại Heroine. Hoàn lại sau giám định 0,042 gam ma túy, loại Heroine, 01 mảnh giấy bạc, 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật.

Tại bản cáo trạng số 85/CT-VKS-CL ngày 21/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh H đã truy tố bị cáo Phùng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Tòa án: Tuyên bố bị cáo Phùng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Xử phạt bị cáo Phùng Văn T từ 13 tháng đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29/8/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi công an tỉnh Hải Dương số 410/KL-KTHS, cơ quan CSĐT- Công an thành phố C, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 15 ngày 29/8/2023, mặt sau có 03 dấu đỏ giáp lai của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H và 03 chữ ký niêm phong mẫu, bên trong đựng: 0,042g ma túy loại Heroine, 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.

Về án phí: Buộc bị cáo Phùng Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Phùng Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 07 giờ 45 phút ngày 29/8/2023 tại trước cửa nhà bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1960 trú tại KDC L, phường C, thành phố C, tỉnh H, Phùng Văn T (đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích) đang có hành vi cất giấu trái phép trong lòng bàn tay phải 0,067 gam ma túy lọai Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị công an phường C phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Heroin là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT: 67 Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất nên đủ căn cứ xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo Phùng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý mua ma túy về sử dụng cho bản thân để thỏa mãn cơn nghiện.

Khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cũng xem xét tới các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ sau: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhân thân xấu, bản thân bị cáo đã từng phạm tội, phải đi chấp hành án nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện, lao động mà tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để rèn luyện bị cáo trở thành người có ích, đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung : Xét bị cáo mua ma túy về sử dụng cho bản thân không có mục đích kiếm lời, bị cáo không có tài sản, không có khả năng thi hành án nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Chí Linh đã thu giữ số ma túy hoàn lại sau giám định 0,042g ma túy loại Heroine là vật Nhà nước cấm lưu hành, 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong là vật không có giá trị nên cần tịch thu cho hủy bỏ là phù hợp với điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Trong vụ án, T khai mua ma túy của người đàn ông không quen biết, không rõ tên tuổi địa chỉ. Cơ quan cảnh sát Điều tra - Công an thành phố C đã điều tra, xác minh nhưng không xác định được đối tượng bán ma túy cho bị cáo. Vì vậy không có căn cứ để tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ.

Về án phí: Bị cáo T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Phùng Văn T 13 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 29/8/2023.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi công an tỉnh H số 410/KL-KTHS, cơ quan CSĐT- Công an thành phố Chí Linh, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 15 ngày 29/8/2023, mặt sau có 03 dấu đỏ giáp lai của phòng kỹ thuật hình sự Công án tỉnh H và 03 chữ ký niêm phong mẫu, bên trong đựng: 0,042g ma túy loại Heroine, 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.

(Tình trạng cụ thể của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT- Công an thành phố C và Chi cục THADS thành phố C ngày 22/11/2023).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Phùng Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ