vanban.org

Bản án 96/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 31/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Bùi T 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/5/2023). Giao bị cáo Bùi T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi T phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC Nghị quyết hướng dẫn áp d…; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ C
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2023/HS-ST
Ngày: 31 – 5 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ C – TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thắm;

2. Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã C tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân thị xã C mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2022/HSST ngày 14 tháng 4 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2023/HSST ngày 18 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Bùi T, sinh năm 1983 tại tỉnh Quảng Nam; hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi M, sinh năm 1956 và mẹ Tạ H, sinh năm 1954; vợ Nguyễn H, sinh năm 1987, bị cáo có 02 con lớn sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra cho đến nay; bị cáo có mặt.

Bị hại: Trần H, sinh năm 1943 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Trần H, sinh năm 1938; địa chỉ: Tổ 18, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội (là chị ruột của bị hại. Ông Trần H không có vợ con, cha Trần B, mẹ Trần V, em ruột Trần M, em ruột Trần Đ, em ruột Trần B, tất cả đều chết. Ông H chỉ còn bà Trần H là chị ruột duy nhất còn sống. Bà H ủy quyền lại cho ông Trần V, sinh năm 1976; địa chỉ: Số 401, L, phường 13, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

Bị đơn dân sự: Công ty P; địa chỉ: Số 280A6 Lương C, phường P, thành phố Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự: Ông Đặng V; địa chỉ thường trú: Số 30 Đại lộ 03, phường B, thành phố Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: Đường DT 743, phường T, thành phố A, tỉnh Bình Dương. Là người đại diện theo ủy quyền. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi T được Sở giao thông vận tải tỉnh Đồng Nai, cấp giấy phép lái xe hạng FC số 7901.5403.7183 ngày 01/6/2021 có giá trị đến ngày 01/6/2026. Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 08/5/2022, sau khi T giao hàng tại công ty D thuộc khu phố 4, phường P, thị xã C, tỉnh Bình Dương, T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 50H-045.09 kéo theo rơmoc biển số 51R-234.25 lưu thông trên đường Quốc lộ 13 theo hướng từ ngã tư Ecolake đến ngã tư S. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi đến ngã tư giao nhau giữa đường Quốc lộ 13 với đường NK13 –D11, thuộc khu phố 2, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Dương. Lúc này đèn tín hiệu màu xanh, T điều khiển xe rẽ trái chuyển hướng vào đường NK13 hướng đến đường Vchạy ngược chiều trên đường Quốc lộ 13 đến nên khi xe ô tô biển số 50H-045.09 kéo theo rơmoc biển số 51R-234.25 chạy đến làn đường xe mô tô thì va chạm với xe mô tô biển 59E1-433.97 do Trần H, sinh năm 1943, địa chỉ thường trú: đường Đ, phường 4, quận N, thành phố Hồ Chí Minh điều khiển lưu thông trên đường Quốc lộ 13 chạy từ ngã tư Sở Sao đến gây tai nạn giao thông. Tai nạn xảy ra làm ông H bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương thì tử vong.

Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường.

Hiện trường vụ tai nạn giao thông là ngã tư giao nhau đường Quốc lộ 13 với đường NK13 có đèn tín hiệu giao thông, mặt đường nhựa bằng phẳng khô, tầm nhìn quan sát tốt. Đường Quốc lộ 13 có dãy phân cách di động, chiều rộng mặt đường là 11,80m, chia làm 3 làn đường: Làn đường mô tô rộng 3,40m, làn ô tô tải rộng 4m. Chiều rộng của mặt đường NK13 rộng 22, 60m.

Lấy trụ điện số 41 nằm trong lề phải theo hướng đi từ ngã tư Sở Sao đến ngã tư Ecolacks làm điểm mốc (cách mép đường 3,80m, do đến trục sau xe mô tô biển số 59E1-433.96 là 30,80m). Lấy mép đường Quốc lộ 13 bên phải hướng từ ngã tư Sở Sao đến ngã tư Ecolacks làm lề chuẩn để đo dấu vết phương tiện.

Vết cày xe mô tô biển số 59E1-433.96 để lại trong khu vực ngã tư trên đường Quốc lộ 13, vết cày có dạng đường thẳng, có hướng từ đường D11 đến vòng xoay V. Điểm đầu vết cày vào lề chuẩn là 3,20m, cách trục tâm bánh thứ nhất bên phải rơmoc biển số 51R-234.25 là 4,30m; điểm cuối vết cày trùng vào trục bánh trước xe mô tô. Vết cày có kích thước 3,10m x 0,50m; xe mô tô biển số 59E1-433.96 ngã bên phải, đầu xe quay chếch về ngã tư Ecoleks, đuôi xe quay chếch về ngã tư Sở Sao. Trục trước đo vào mép đường là 0,70m, cách vết máu nạn nhân để là 2, 40m. Vết máu nạn nhân để lại hiện trường có màu đỏ, kích thước 0,50m x 1,40m. Tâm vết máu cách mép đường là 3 m và cách bánh thứ 3 bên phải xe ô tô đầu kéo là 0,75m.

Xe ô tô đầu kéo biển số 50H-045.09 kéo theo rơmoc biển số 51R-234.25 dừng tại hiện trường, đầu xe hướng về vòng xoay P và nằm trên đường NK13, đuôi xe chếch về hướng đường D11 và rơmoc biển số 51R-234.25 nằm trên Quốc lộ 13, bánh trước thứ nhất bên phải xe ô tô đầu cách lề chuẩn 9,50m, bánh trước thứ 2 bên phải xe ô tô cách vào lề đường 4,30m, bánh trước thứ nhất bên trái xe ô tô đầu kéo cách lề đường 9, 50m; bánh thứ nhất bên phải của rơmoc biển số 51R-234.25 cách lề đường 5,80m, bánh thứ nhất bên trái của rơmoc biển số 51R-234.25 cách lề đường 3,50m, trục bánh sau thứ 2 bên trái của rơmoc biển số 51R-234.25 cách lề đường 4,70m.

Theo Biên bản khám nghiệm phương tiện giao thông:

Dấu vết để lại trên xe ô tô đầu kéo biển số 50H-045.09: Vết màu đen bám dính vỏ ngoài mặt trước ngoài trục thứ 3 bên phải xe ô tô đầu kéo hướng từ sau về trước có kích thước 0,10m x 0,8m; vết chà mặt vỏ thứ 3 bên phải ô tô đầu kéo còn dính nhựa có kích thước 0,64m x 0,16m. Vết trượt xước màu đen bám dính mặt trong, vỏ ngoài trục thứ 2 bên phải xe ô tô đầu kéo có kích thước 0,43m x 0,30m; Vết xước cách thùng conterno còn dính vết màu xanh mũ bảo hiểm kích thước 0,73m x 0,01m cách mặt đất 1,41m.

Dấu vết để lại trên xe mô tô biển số 59E1-433.96: Vết màu đen bám dính mặt vỏ trước, kích thước 0,38m x 0,30m; bể vè trước, bể niền trước, cong mâm trước, gãy chảng ba trước; vết xước vè trước còn dính máu đen hướng từ trước về sau; vết trượt xước ống phuộc trước trái dính màu đen; bể bửng trái cong phuộc trước, bể ốp lường trước chân từ trái sang phải, mòn đầu tay cầm phải, bể cánh bửng phải.

Theo Kết luận định giá tài sản ngày 05/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản thị xã C, kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 59E1-433.96 là 2.614.000 đồng.

Theo Kết luận giám định pháp y tử thi số 492/GĐPY ngày 16/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Nguyên nhân chết của ông Trần H là chấn T sọ não, bể xương hộp sọ, dập não.

Đối với xe ô tô đầu kéo biển số 50H-045.09 kéo theo rơmoc biển số 51R-234.25 xe do Công ty P đứng tên đăng ký. Ngày 20/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C xử lý vật chứng giao trả xe ô tô đầu kéo biển số 50H-045.09; 01 rơmoc biển số 51R-234.25; 01 giấy chứng nhận kiểm định; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đầu kéo biển số 50H-045.09; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe sơmi rơmooc biển số 51R-234.25 cho người đại diện hợp pháp của Công ty P.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Bùi T đã thoả thuận bồi thường số tiền 150.000.000 đồng cho anh Trần Hưng Quốc Việt là người đại diện hợp pháp cho bị hại Trần H. Anh V không yêu cầu giải quyết gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Bùi T.

Bản Cáo trạng số 95/CT – VKSBC ngày 12/4/2023, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C truy tố bị cáo Bùi T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra, truy tố bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết quả khám nghiệm xác định hiện trường sau tai nạn, Kết luận giám định pháp y tử thi số 492/GĐPY ngày 16/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương và đồng ý với tội danh và Điều luật Viện kiểm sát truy tố.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Bùi T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định.

Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 xe ô tô đầu kéo biển số kiểm soát 50H – 045.09 kéo theo romooc biển số 51R – 234.25 do Công ty P đứng tên đăng ký. Ngày 20/5/2022, Công an thị xã C đã xử lý vật chứng trả lại cho Công ty P 01 xe ô tô đầu kéo biển số kiểm soát 50H – 045.09 kéo theo romooc biển số 51R – 234.25 ; 01 giấy chứng nhận kiểm định; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đầu kéo biển số 50H-045.09; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe sơmi rơmooc biển số 51R-234.25 cho người đại diện hợp pháp của Công ty P nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Bùi T đã thoả thuận bồi thường số tiền 150.000.000 đồng người đại diện hợp pháp cho bị hại Trần H. Anh V không yêu cầu giải quyết gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Bùi T. Đối với xe mô tô biển số 59E1-433.96 là xe bị hại đứng tên chủ sở hữu, ông V đã nhận lại xe và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý đối với toàn bộ nội dung Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã C.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng số 95/CT - VKSBC ngày 12/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã C đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 08/5/2022, tại ngã tư giao nhau giữa đường Quốc lộ 13 và NK13 –D11, bị cáo Bùi T có hành vi điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 50H-045.09 kéo theo rơmoc biển số 51R-234.25 chạy trên đường Quốc lộ 13, chuyển hướng rẽ trái vào đường NK13 đột ngột, không nhường đường cho xe mô tô biển số 59E1-433.9 do Trần H điều khiển lưu thông trên đường Quốc lộ 13 chạy ngược chiều đến, gây ra tai nạn giao thông, làm ông H bị thương nặng và tử vong sau đó tại bệnh viện.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại Điều 15, khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008, gây hậu quả làm ông H tử vong, xâm hại đến trật tự giao thông công cộng. Từ những nhận định nêu trên đủ cơ sở kết luận hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã C truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi bị cáo thực hiện: Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, không chấp hành các quy tắc an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến trật tự giao thông công cộng làm ông H tử vong, gây tổn thất về tinh thần không gì bù đắp được cho gia đình bị hại.

Xét về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đây là các tình tiết cần xem xét, đánh giá khi quyết định hình phạt.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện chủ động bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 150.000.000 đồng, gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại trách nhiệm dân sự; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có mẹ là người có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, việc bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh, an toàn xã hội, do đó căn cứ quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cho bị cáo hưởng án treo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận tiền bồi thường không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng vụ án: Ngày 20/5/2022, Công an thị xã C đã xử lý vật chứng trả lại 01 xe ô tô đầu kéo biển số kiểm soát 50H – 045.09 kéo theo romooc biển số 51R – 234.25; 01 giấy chứng nhận kiểm định; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đầu kéo biển số 50H-045.09; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe sơmi rơmooc biển số 51R-234.25 cho người đại diện hợp pháp của Công ty P nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với xe mô tô biển số 59E1-433.96 là xe bị hại đứng tên chủ sở hữu, ông Việt đã nhận lại xe và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết hợp nhất số 02/VBHN – TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.

Tuyên bố bị cáo Bùi T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Bùi T 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/5/2023).

Giao bị cáo Bùi T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.

3. Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 63/2023/HSST-LCCT ngày 15/4/2023 đối với bị cáo Bùi T kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Bùi T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị đơn dân sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ