- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức Luyện - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2023/HS-ST Ngày: 29/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Ngọc Hương
Bà Trịnh Thị Thu Huyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Khải - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 137/2023/HSST ngày 17 tháng 11 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức L - Sinh năm: 1990 tại Khánh Hòa; Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn G, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đức H và bà Nguyễn Thị Mỹ T; Vợ: Nguyễn Thị Thu T1 (đã ly hôn); con: 01 con, sinh năm: 2011.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 25/01/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xử phạt 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phí ngày 25/4/2016. Chấp hành xong án phạt tù ngày 03/4/2018.
- Ngày 30/01/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong án phí 04/6/2019. Chấp hành xong án phạt tù ngày 18/4/2020.
- Ngày 14/12/2023, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C khởi tố vụ án về “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/12/2023 đến nay (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 30/6/2023, Nguyễn Đức L mua 01 bịch ma túy và 11 tép ma túy với giá 1.300.000 đồng của 01 người thanh niên không rõ lai lịch ở khu vực lầu G, thành phố N về để sử dụng. Luyện đưa số ma túy trên về nhà ở thôn G, xã C, thành phố C để cất giấu bịch ma túy tại phòng ngủ của mình. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày thì bị phát hiện, thu giữ tại phòng ngủ của L: 01 bịch nylon, bên trong có chứa chất bột nén màu trắng và 11 đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất bột nén màu trắng.
Tại Kết luận giám định số 319 ngày 07/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận:
- Chất bột nén màu trắng trong mẫu ký hiệu A gửi giám định có khối lượng 0,7570 gam là ma túy, loại Heroine.
- Chất bột nén màu trắng trong mẫu ký hiệu B gửi đi giám định có khối lượng 0,5905 gam ma túy, loại Heroine.
Tại Bản cáo trạng số: 100/CT-VKSCR-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh giữ nguyên nội dung đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đức L và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng vụ án: 1,3475 gam ma túy, loại Heroine đã sử dụng hết trong quá trình giám định. Bị cáo Nguyễn Đức L thừa nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về người tham gia tố tụng: Tại quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Cam Rannh đưa ông Nguyễn Đức H tham gia vụ án với tư cách tố tụng là người chứng kiến. Tuy nhiên, ông Nguyễn Đức H là cha của bị cáo (người thân tích của người bị buộc tội) nên căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 67 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xác định ông Nguyễn Đức H không tham gia tố tụng là người chứng kiến.
Về nội dung vụ án:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/6/2013, tại nhà ở của Nguyễn Đức L tại thôn G, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Đức L đã có hành vi tàng trữ 1,3475 gam ma túy, loại Heroine.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 100/CT-VKSCR-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Đức L là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo Nguyễn Đức L có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, trong thời gian bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng vẫn tiếp tục trộm cắp tài sản cho thấy bị cáo xem thường pháp luật. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo với mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. [5] Về vật chứng vụ án: 1,3475 gam ma túy, loại H1 đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên không xét.
Về các vấn đề khác: Nguyễn Đức L khai nhận mua ma túy của người thành niên tại khu vực lầu 7, thành phố N; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C chưa xác định được lai lịch nên tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. 1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam: Ngày 13/12/2023.
3. Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Đức L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thành phố Cam Ranh; - Công an thành phố Cam Ranh (02 bản); - Chi cục THADS thành phố Cam Ranh; - Sở tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Vân |