vanban.org

Bản án 96/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hải An, TP. Hải Phòng Tuyên án 30/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Quản Trọng N.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu huỷ: 01 bì giấy niêm phong số 214MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng chứa ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định; 01 phong bì niê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "quản Trọng Nam - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Quản Trọng N.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN N
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2023/HS-ST
Ngày 30-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hồng Đại

Bà Nguyễn Thị Tư.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Trần Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2023và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 167/TB-TA ngày 26 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Quản Trọng N, sinh ngày 02 tháng 10 năm 1998 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 439A N, S, L, Hải Phòng; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Quản Trọng B và bà Võ Thị Mai H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 28/02/2023 đến ngày 09/3/2023 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Phạm Quang H, sinh năm 1990; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 40/12 C, T, L, Hải Phòng; nơi cư trú: Số 62/51 H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt ( có đơn xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 28 tháng 2 năm 2023, tại khu vực trước cửa nhà số 179 Vũ Trọng Khánh, Đằng Giang, N, Hải Phòng. Công an quận N, Hải Phòng kiểm tra đối với Phạm Quang H (sinh năm 1990, Nơi ở: 6/51 Hồ Sen, Hàng Kênh, L, Hải Phòng) có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại Cơ quan Công an Phạm Quang H khai nhận: Do nghiện ma túy cần sa nên H nảy sinh ý định tìm mua về để sử dụng. Khoảng đầu tháng 2/2023 qua quan hệ xã hội H có biết Quản Trọng N sinh năm 1998, ĐKTT: 439A N, S, L, Hải Phòng có ma túy cần sa bán, H đã gặp và hỏi mua của N 2.000.000 đồng ma túy cần sa, N bán cho H 01 túi nilon bên trong chứa cục thảo mộc khô, sau đó H mang về nhà cắt nhỏ ra và cuộn thành 60 điếu để sử dụng dần. Do H sợ gia đình phát hiện, nên toàn bộ số ma túy cần sa mua được, H thường mang theo người để khi có dịp sẽ mang ra sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 00 ngày 28/2/2023, khi đi đến trước số 179 đường Vũ Trọng Khánh, Đằng Giang, N, Hải Phòng thì bị công an quận N bắt quả tang cùng vật chứng: 01 hộp nhựa màu đỏ bên trong chứa 15 điếu cần sa, 01 lọ thủy tinh bên trong chứa 23 điếu cần sa, 01 gói nilon có kích thước khoảng 5x8cm bên trong chứa các cục thảo mộc khô, 01 hộp nhựa màu xanh bên trong có 15 điếu cần sa trong túi áo khoác bên trái của H; 01 chiếc điện thoại NOKIA màu đen có sim đã qua sử dụng.

Khám xét nơi ở của H không thu giữ được gì liên quan đến hành vi phạm tội

Căn cứ tài liệu điều tra, Cơ quan CSĐT - Công an quận N ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Quản Trọng N; thu giữ:

- 01 hộp giấy kích thước khoảng 5x8x12 cm bên trong có: 02 gói nilon kích thước mỗi gói khoảng 4x10 cm bên trong mỗi gói đều chứa thảo mộc khô thu trên tay N .

- 01 gói nilon kích khoảng 4x10 cm bên trong chứa thảo mộc khô thu trong túi áo khoác bên trái của N đang mặc.

- 01 hộp sắt màu hồng bên trong chứa 19 điếu thuốc cuộn màu trắng, mỗi điếu dài khoảng 7cm bên trong đều chứa thảo mộc khô trong túi áo khoác bên phải N đang mặc.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen bên trong có sim (đã qua sử dụng).

Khám xét khẩn cấp tại nơi ở của N không thu giữ được gì liên quan đến hành vi phạm tội. Khám xét khẩn cấp nhà số 234 Trang Quan, An Đồng, An Dương, Hải Phòng là phòng tập gym do anh Ngô Phương Đông (sinh ngày 20/5/1994, ĐKHKTT: Số 06 Venice 04 Vinhomes, Thượng Lý, Hồng Bàng, Hải Phòng) thuê kinh doanh và anh Đông có thuê N làm quản lý phòng tập.

- Tại gầm bàn uống nước trong phòng nghỉ tầng 2; thu giữ: 01 hộp nhựa hình trụ màu đen cao khoảng 15cm bên trong chứa:

+ 02 gói nilon, mỗi gói kích thước khoảng 8x10cm bên trong đều chứa thảo mộc khô.

+ 01 cân điện tử; 01 hộp cuộn bằng kim loại; 10 mảnh giấy cuộn màu trắng, mỗi mảnh giấy dài khoảng 7cm.

- Tại nóc nhà vệ sinh trong phòng nghỉ tầng 2:

+ 01 lọ thủy tinh hình trụ tròn cao khoảng 40cm có nắp nhựa màu hồng, trong chứa: 06 gói nilon, mỗi gói kích thước khoảng 20x25cm, bên trong đều chứa thảo mộc khô, 05 gói nilon mỗi gói kích thước khoảng 8x10cm bên trong đều chứa thảo mộc khô.

+ 01 bình nhựa màu đen cao khoảng 30cm có nắp nhựa trong chứa: 03 gói nilon, mỗi gói kích thước khoảng 20x25cm, bên trong đều chứa thảo mộc khô.

- 04 hộp kim loại, hình trụ tròn kích thước khoảng 8x12cm; mỗi hộp chứa 01 gói nilon kích thước khoảng 12x18cm, bên trong chứa thảo mộc khô.

- 01 hộp kim loại kích thước khoảng 12x18cm trong có 02 gói nilon; mỗi gói kích thước khoảng 8x12cm, bên trong đều chứa thảo mộc khô, 01 hộp nhựa màu trắng chưa 12 điếu cuộn bằng giấy màu trắng mỗi điếu dài khoảng 7cm, bên trong đều chứa thảo mộc khô.

+ 01 gói nilon kích thước khoảng 8x12cm, bên trong chứa thảo mộc khô.

- 01 máy xay màu xanh hình trụ cao khoảng 25cm, trong cối xay còn bám dính thảo mộc khô vụn.

- Nhiều vỏ gói nilon kích thước các loại.

Tại Cơ quan Công an Quản Trọng N khai nhận:

Khoảng tháng 12/2022, N nảy sinh ý đi mua ma túy cần sa về bán kiếm lời. N đến đường tàu Mê Linh, L, Hải Phòng để mua ma túy cần sa. Tại đây, N gặp và hỏi mua 40.000.000 đồng ma túy cần sa của một người đàn ông không quen biết. Người đàn ông đồng ý bán, nhận tiền và đưa lại cho N 01 gói nilon bên trong chứa thảo mộc khô. Mua được ma túy, N mang về nhà số 234 Trang Quan, An Đồng, An Dương, Hải Phòng để cất giấu. Sau đó, N chia gói ma túy cần sa vừa mua được thành nhiều gói nhỏ để có khách hỏi mua N sẽ bán. Nếu bán hết số ma túy trên N thu được 55.000.000 đồng, N được hưởng lợi 15.000.000 đồng.

Khoảng đầu tháng 02 năm 2023 N mới bán lần đầu tiên cho Phạm Quang H 01 gói nilon chứa thảo mộc khô là ma túy cần sa với giá 2.000.000 đồng ở khu vực An Dương, Hải Phòng. Ngoài bán cho H ra, N chưa bán ma túy cần sa cho ai.

Kết quả xét nghiệm nước tiểu của Phạm Quang H, Quản Trọng N dương tính với chất ma túy loại Cần sa

Tại bản kết luận giám định số 214MT ngày 06 tháng 3 năm 2023 của Phòng PC09 - CATP Hải Phòng kết luận:

- Thảo mộc khô thu giữ của Phạm Quang H của mẫu QT1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 4,37 gam, là loại: Cần sa.

- Thảo mộc khô của thu giữ của Phạm Quang H của mẫu QT2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 6,28 gam, là loại: Cần sa.

- Thảo mộc khô thu giữ của Phạm Quang H của mẫu QT3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 1,0 gam, là loại: Cần sa.

- Thảo mộc khô thu giữ của Phạm Quang H của mẫu QT4 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 4,20 gam, là loại: Cần sa.

- Thảo mộc khô thu giữ của Quản Trọng N của mẫu KC1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 19,92 gam, là loại: Cần sa.

- Thảo mộc khô thu giữ của Quản Trọng N của mẫu KC2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 4,97 gam, là loại: Cần sa.

- Thảo mộc khô thu giữ của Quản Trọng N của mẫu KC3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 5,63 gam, là loại: Cần sa.

- Thảo mộc khô thu giữ của Quản Trọng N của mẫu số 1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 9,45 gam, là loại: Cần sa.

- Thảo mộc khô thu giữ của Quản Trọng N của mẫu số 2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 361,75 gam, là loại: Cần sa.

- Thảo mộc khô thu giữ của Quản Trọng N của mẫu số 3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 203,55 gam, là loại: Cần sa.

- Thảo mộc khô thu giữ của Quản Trọng N của mẫu số 4 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 200,36 gam, là loại: Cần sa.

- Thảo mộc khô thu giữ của Quản Trọng N của mẫu số 5 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 14,55 gam, là loại: Cần sa.

- Thảo mộc khô thu giữ của Quản Trọng N của mẫu số 6 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 17,74 gam, là loại: Cần sa.

- Thảo mộc khô, vụn bám dính thu giữ của Quản Trọng N của mẫu số 7 gửi giám định là ma túy, là loại: Cần sa. Không đủ điều kiện xác định khối lượng ma túy bám dính trên.

Kết quả giám định 02 điện thoại thu giữ của N và H không phát hiện việc liên quan đến hành vi phạm tội

Tại cơ quan điều tra, Quản Trọng N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Lời khai nhận tội của Quản Trọng N phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét khẩn cấp nơi cất giấu ma túy của N, lời khai của H, lời khai người chứng kiến và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số 103/CT-VKSNQ ngày 15 tháng 6 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng truy tố Quản Trọng N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Quản Trọng N về tội danh, điều luật áp dụng như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Quản Trọng N từ 30 đến 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/02/2023.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 hộp giấy chứa ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định, 01 bì niêm phong số 214MT-A/PC09 chứa 01 máy xay màu xanh hình trụ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng; 01 cân điện tử; 01 hộp cuộn bằng kim loại; 10 mảnh giấy cuộn màu trắng, mỗi mảnh giấy dài khoảng 7cm; Nhiều vỏ gói nilon kích thước các loại; 01 hộp nhựa hình trụ màu đen cao khoảng 15cm, 01 hộp nhựa hình trụ màu đen cao khoảng 30cm; 01 lọ thủy tinh hình trụ tròn cao khoảng 40cm có nắp nhựa màu hồng.

- Truy thu của bị cáo N số tiền mua bán ma túy 2.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

- Trả lại bị cáo N 01 điện thoại NOKIA màu đen có sim (đã qua sử dụng); trả lại anh Phạm Quang H 01 điện thoại NOKIA màu đen có sim (đã qua sử dụng).

4. Về án phí: Bị cáo Quản Trọng N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như bản cáo trạng truy tố và nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận N. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, biên bản thu giữ tang vật và kết luận giám định thể hiện:

Khoảng đầu tháng 12/2022 N mua ma túy cần sa về để bán kiếm lời. Đến đầu tháng 02/2023, N bán cho Phạm Quang H 01 gói ma túy cần sa với giá 2.000.000 đồng. Ngoài ra N còn cất giấu 837, 77 gam ma túy cần sa mục đích để bán kiếm lời. Toàn bộ số thảo mộc thu giữ của H và N theo kết luận giám định số số 214MT ngày 06 tháng 3 năm 2023 của Phòng PC09 - CATP Hải Phòng là ma túy cần sa có khối lượng là 853,77 gam.

Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của Quản Trọng N đã phạm tội “Mua Bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo N đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho người khác kiếm lời. Lượng ma túy bị cáo N cất dấu dùng để bán có khối lượng qua giám định là 853,77 gam là loại cần sa nên bị cáo bị xét xử theo khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xét xử nghiêm nhằm mục đích giáo dục và phòng ngừa chung.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tuy nhiên tội phạm bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc các bị cáo cách ly khỏi xã hội, mới đủ thời gian để các bị cáo cải tạo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định; không có tài sản riêng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- 01 bì giấy niêm phong số 214MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng chứa ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định là vật chứng của vụ án và là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 phong bì niêm phong số 214 MT-A/PC09 chứa một máy xay màu xanh hình trụ của phòng Kỹ thuật hình sự công an thành phố Hải Phòng; 01 cân điện tử; 01 hộp cuộn bằng kim loại; 10 mảnh giấy cuộn màu trắng, mỗi mảnh giấy dài khoảng 7cm; nhiều vỏ gói nilon kích thước các loại; 01 hộp nhựa hình trụ màu đen cao khoảng 15cm; 01 hộp nhựa hình trụ màu đen cao khoảng 30cm; 01 lọ thủy tinh hình trụ tròn cao khoảng 40cm có nắp nhựa màu hồng; là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Truy thu của bị cáo N số tiền mua bán ma túy 2.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính sung quỹ Nhà nước.

- Trả lại bị cáo N 01 điện thoại NOKIA màu đen có sim (đã qua sử dụng) số IMEI1: 357332567444035; IMEI2: 357332567944034; trả lại anh Phạm Quang H 01 điện thoại NOKIA màu đen có sim (đã qua sử dụng) số IMEI1: 355843093172587, IMEI2: 355843098172582.

Đối với hành vi tàng trữ 15,85 gam ma túy cần sa của Phạm Quang H mục đích để sử dụng cho bản thân. Công an quận N ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Phạm Quang H về hành vi trên.

Đối với người N giới bán ma túy cho N, Cơ quan điều tra chưa xác định được căn cước, lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý.

Đối với anh Ngô Phương Đông là chủ quán tập gym số 234 Trang Quan, An Đồng, An Dương, Hải Phòng không biết việc N sử dụng địa điểm trên để cất giấu ma túy nên không xem xét xử lý.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Quản Trọng N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Quản Trọng N 30 (Ba mươi) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/02/2023.

2. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Quản Trọng N.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 bì giấy niêm phong số 214MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng chứa ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong số 214 MT-A/PC09 chứa một máy xay màu xanh hình trụ của phòng Kỹ thuật hình sự công an thành phố Hải Phòng; 01 cân điện tử; 01 hộp cuộn bằng kim loại; 10 mảnh giấy cuộn màu trắng, mỗi mảnh giấy dài khoảng 7cm; nhiều vỏ gói nilon kích thước các loại; 01 hộp nhựa hình trụ màu đen cao khoảng 15cm; 01 hộp nhựa hình trụ màu đen cao khoảng 30cm; 01 lọ thủy tinh hình trụ tròn cao khoảng 40cm có nắp nhựa màu hồng.

- Truy thu của bị cáo N số tiền 2.000.000 (Hai triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.

- Trả lại bị cáo N 01 điện thoại NOKIA màu đen có sim (đã qua sử dụng) số IMEI1: 357332567444035; IMEI2: 357332567944034; trả lại anh Phạm Quang H 01 điện thoại NOKIA màu đen có sim (đã qua sử dụng) số IMEI1: 355843093172587, IMEI2: 355843098172582.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15 tháng 6 năm 2023 giữa Công an quận N và Chi cục Thi hành án dân sự quận N).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc: Bị cáo Quản Trọng N nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo Quản Trọng N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Phạm Quang H được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ