vanban.org

Bản án 96/2023/HS-PT — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 31/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn Qu, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 46/2023/HS-ST ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương về hình phạt đối với bị cáo Qu.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Văn Qu 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Văn Qu phải chấp hành 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Qu bị xét xử về tội "tàng trữ trái phép chất ma túy" và "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn Qu, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 46/2023/HS-ST ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương về hình phạt đối với bị cáo Qu.
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2023/HS-PT
Ngày: 31/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hương Nhu.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh và bà Phạm Thị Đào.

-Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Mai - Thư ký Tòa án.

- Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần gồm có:

- Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Ông Nguyễn Mạnh Tuấn và bà Trần Thu Hiền - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương.

Ngày 31/7/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 102/2023/TLPT-HS ngày 06/7/2023 đối với bị cáo Trần Văn Qu, do có kháng cáo của bị cáo Qu đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2023/HS-ST ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Bị cáo kháng cáo:

Trần Văn Qu, sinh năm 1999, tại thành phố C, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Khu dân cư Tr, phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q1 và bà Dương Thị N; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2022, sau chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (có mặt).

Những người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

- Chị Dương Thùy D, sinh năm 2004 (vắng mặt);

- Cháu Phạm Nguyễn Gia B, sinh ngày 23/11/2008 (vắng mặt);

Người đại diện hợp pháp của cháu B: Bà Nguyễn Thị H (vắng mặt).

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội Dương Thùy D vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 16/12/2022, Trần Văn Qu đi bộ từ phòng ở đến khu vực đèn xanh đỏ gần nhà hàng 559 thành phố Hải Dương để mua ma túy về sử dụng. Tại đây Qu gặp và mua 550.000 đồng của một người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch được 01 gói ma túy cùng 01 coóng thủy tinh và 02 ống hút bằng nhựa. Sau khi mua được ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy, Qu cất giấu vào trong túi áo khoác rồi bắt xe khách về nhà tại khu dân cư Tr, phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Khi Qu xuống xe và đi bộ đến ngã tư gần UBND phường A thì gặp Dương Thùy D cùng cháu Phạm Nguyễn Gia B, sinh ngày 23/11/2008, Qu rủ Dương Thùy D và B đi tìm chỗ nói chuyện. Đi qua quán tạp hóa, Qu bảo Dương Thùy D vào mua chai nước lọc để uống nên Dương Thùy D mua 02 chai nước lọc, Qu mua 01 bật lửa ga màu đỏ để châm thuốc. Sau đó, cả ba người đi đến khu vực cạnh trạm bơm thuộc khu dân cư Đồng Vày, phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương ngồi chơi uống nước nói chuyện cùng nhau. Khi uống hết chai nước lọc, Qu dùng bật lửa đốt nóng coóng thủy tinh rồi đục 02 lỗ trên nắp vỏ chai nước lọc, 01 lỗ cắm coóng thủy tinh, lỗ còn lại cắm ống hút nhựa để tạo thành bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy. Sau đó, Qu bỏ ma túy từ trong túi áo khoác ra cho vào coóng thủy tinh đốt nóng và nói “đứa nào chơi thì chơi” (ý Qu bảo ai sử dụng ma túy thì sử dụng), Dương Thùy D, Qu và B lần lượt sử dụng số ma túy trên. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, lực lượng Công an thành phố Chí Linh phối hợp với Công an phường A tiến hành kiểm tra, phát hiện Qu, Dương Thùy D và B đang sử dụng trái phép chất ma túy. Thấy lực lượng Công an đến, Qu cầm bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy vứt xuống sông nhưng làm vỡ coóng thủy tinh thành hai phần, phần chân coóng nằm trên mặt đất, còn phần bầu coóng gắn với vỏ chai nước lọc và 01 ống hút nhựa bị Qu ném xuống sông. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản thu giữ tại vị trí các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy 01 túi ni lông màu trắng, viền khóa màu xanh, kích thước (2.5x2)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 chân coóng thủy tinh hình lưỡi câu.

Tại bản kết luận giám định số 18/KL-KTHS ngày 19/12/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi ni lông màu trắng, viền khóa màu xanh được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định khối lượng là 0,167g là ma túy, loại Methamphetamine.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2023/HS-ST ngày 25/5/2023, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh đã căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b, c khoản 2, khoản 5 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Q1 số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Qu phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Qu 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Văn Qu phải chấp hành 09 (chín) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/12/2022.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Trần Văn Qu 55.000.000 (năm mươi lăm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.

Ngoài ra bản án còn Q1 định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 30/5/2023 bị cáo Qu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Qu vẫn giữ nguyên nội Dương Thùy D kháng cáo và trình bày hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bố mẹ ly hôn, bị cáo sống cùng ông bà ngoại, bản thân bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phân tich tinh chất, mứ c độ

́

́ hành vi pha ̣m tội, tinh tiề

́t giảm nhe ̣ của bị cáo và đề nghi ̣ Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Qu, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh.

XÉT THẤY:

Trên cơ sở nội Dương Thùy D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) nhận định như sau:

Về tố tụng: Bị cáo Qu kháng cáo trong thời gian luật định nên kháng cáo hợp lệ.

Về nội Dương Thùy D: Lời khai của bị cáo Qu tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với biên bản vụ việc, kết luận giám định, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên HĐXX có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 16/12/2022, tại khu vực trạm bơm thuộc khu dân cư Đồng Vày, phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Trần Văn Qu có hành vi chuẩn bị công cụ và cung cấp trái phép chất ma túy loại Methamphetamine cho Dương Thùy D và Phạm Nguyễn Gia B (sinh ngày 23/11/2008 - là người dưới 18 tuổi) sử dụng cùng với Qu; đồng thời Qu còn tàng trữ 0,167 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh phối hợp với Công an phường A kiểm tra, phát hiện. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

Xét kháng cáo của bị cáo Qu xin giảm nhẹ hình phạt, HĐXX thấy:

Đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”: Khối lượng ma túy mà bị cáo Qu tàng trữ là 0,167 gam, loại Methamphetamine, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”: Bị cáo bị áp dụng 2 tình tiết định khung ở khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là “đối với 02 người trở lên” và “đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” nhưng bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt 08 năm 06 tháng tù là có phần nghiêm khắc. Mặt khác, ngoài hình phạt chính, cấp sơ thẩm còn buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt bổ sung là phạt tiền với số tiền 55.000.000 đồng. HĐXX thấy hình phạt bổ sung trong tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” có tính chất tùy nghi, theo đó khi xét xử cần phải cân nhắc các tình tiết cụ thể của vụ án, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân người phạm tội và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để Q1 định có áp dụng hay không áp dụng hình phạt bổ sung. Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ, xác định được bị cáo Qu có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ ly hôn, bị cáo sống cùng ông bà ngoại già yếu, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên HĐXX thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Do đó, HĐXX sẽ sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt chính và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Qu thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Kháng cáo của bị cáo Qu được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các Q1 định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không xem xét, do đó có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 của Nghị Q1 số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn Qu, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 46/2023/HS-ST ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương về hình phạt đối với bị cáo Qu.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 Bộ luật hình sự:

1. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Văn Qu 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Văn Qu phải chấp hành 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/12/2022.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trần Văn Qu.

3. Về án phí: Bị cáo Qu không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các Q1 định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án, ngày 31/7/2023.

Cỡ chữ