- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn N - Đ"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà N; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 96/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30 - 8 - 2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Tuyết Minh và bà Trần Thị Yến Nhi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Văn Năng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 97/2023/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2023/QĐST- HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Hồng N, sinh năm 1977;
- Bị đơn: Ông Phạm Minh Đ, sinh năm 1975;
Cùng nơi thường trú: Số x, Tổ y, ấp N L z, xã P X, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
(Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt,
bị đơn vắng mặt nhưng không rõ lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/3/2023 và lời khai trong thời gian chuẩn bị xét xử vụ án, nguyên đơn bà Vũ Thị Hồng N trình bày:
Bà và ông Phạm Minh Đ chung sống với nhau từ năm 1994. Đến năm 2020, ông bà tự nguyện kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân xã P X, huyện Tân Phú cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 03 tháng 12 năm 2020. Trong thời gian sống chung, ông Đ thường xuyên nhậu nhẹt, say xỉn về nhà chửi bới, xúc phạm, đánh đập bà, đập phá đồ đạc trong gia đình. Tình trạng kéo dài trong nhiều năm. Đến đầu năm 2020, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Hiện tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Minh Đ.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà và ông Đ có 05 (năm) con chung là Phạm Minh C, sinh năm 1995, Phạm Thị Tuyết S, sinh năm 1998, Phạm Minh P, sinh năm 2004, Phạm Khánh H, sinh ngày 26/6/2007 và Phạm Đức T, sinh ngày 05/4/2012. Nay ly hôn, đối với cháu C, cháu S và cháu P đã trưởng thành và có khả năng lao đồng nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết; đối với cháu H và cháu Thiên, bà đồng ý giao cho ông Đ trực tiếp nuôi con và bà không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại Bản tự khai ghi ngày 28/6/2023, bị đơn ông Phạm Minh Đ trình bày:
Bà N muốn làm gì thì làm, ông không quan tâm và vợ chồng không có nợ chung. Ngoài ra, ông không trình bày gì thêm.
Trong thời gian chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến bị đơn nhưng bị đơn không đến Tòa án để làm việc, không giao nộp tài liệu, chứng cứ để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tòa án lập Biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân của các đương sự tại địa phương và thông báo kết quả thu thập được tài liệu, chứng cứ gửi đến các đương sự. Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ: Nguyên đơn không có ý kiến về các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp, cũng như các tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã thu thập được và không bổ sung tài liệu, chứng cứ nào khác; bị đơn vắng mặt, Tòa án đã Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tống đạt theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng trình tự tố tụng theo quy định đối với một phiên tòa sơ thẩm.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
- Các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn: Cho bà Vũ Thị Hồng N được ly hôn với ông Phạm Minh Đ; về con chung: Giao các con chung chưa thành niên là Phạm Khánh H, sinh ngày 26/6/2007 và Phạm Đức T, sinh ngày 05/4/2012 cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng và bà N không phải cấp dưỡng nuôi con do ông Đ không yêu cầu; về tài sản chung: Tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi có tranh chấp; về nợ chung: Các đương sự không có nợ chung nên Tòa án không giải quyết; về án phí: Nguyên đơn phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Xác định thẩm quyền giải quyết: Ông Phạm Minh Đ cư trú tại ấp Ngọc Lâm 2, xã P X, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, căn cứ theo điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
[1.2] Xác định quan hệ pháp luật: Bà N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Đ và giải quyết việc nuôi dưỡng con chung chưa thành niên. Vì vậy, quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Xác định tư cách đương sự: Bà N khởi kiện đối với ông Đ. Căn cứ theo khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà N là nguyên đơn, ông Đ là bị đơn trong vụ án.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
Về áp dụng pháp luật nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy:
Về hôn nhân: Các đương sự tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P X, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 112, ngày 03 tháng 12 năm 2020. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, khi bà N yêu cầu ly hôn thì Tòa án căn cứ Luật hôn nhân gia đình để giải quyết.
Trên cơ sở lời khai của đương sự và tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình tiến hành tố tụng thể hiện: Trong thời gian sống chung, các đương sự có xảy ra mâu thuẫn, cãi vã với nhau. Từ đầu năm 2020, các đương sự sống ly thân cho đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn nên bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, ông Đ đã biết được việc Tòa án thụ lý vụ án, được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Đ bỏ mặc, không quan tâm đến yêu cầu của bà N, từ đó cho thấy ông Đ không mong muốn Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, tiếp tục chung sống với nhau, cũng như không đưa ra ý kiến gì phản đối việc bà N yêu cầu ly hôn với mình.
Từ những đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Các đương sự đã vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ giữa vợ và chồng; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình, làm hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không được liên tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con và cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự có 05 (năm) con chung là Phạm Minh C, sinh năm 1995, Phạm Thị Tuyết S, sinh năm 1998, Phạm Minh P, sinh năm 2004, Phạm Khánh H, sinh ngày 26/6/2007 và Phạm Đức T, sinh ngày 05/4/2012. Hiện cháu C, cháu S và cháu P đã trưởng thành và có khả năng lao động nên Tòa án không giải quyết. Đối với cháu H và cháu T: Xét thấy, từ khi các đương sự sống ly thân, cháu H và cháu T sống cùng với ông Đ và bà N đồng ý giao cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, để tránh xáo trộn trong cuộc sống và tránh ảnh hưởng đến tâm lý của các con chung nên giao cháu H và cháu T cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở, đúng pháp luật. Ông Đ không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết và Tòa án cũng không ghi nhận được ý kiến, yêu cầu của bị đơn về việc giải quyết tài sản chung khi nào có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Về nợ chung: Các đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, 147; khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 235, 238, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Điều 39 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị Hồng N.
1.1. Về hôn nhân: Bà Vũ Thị Hồng N được ly hôn với ông Phạm Minh Đ.
1.2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự có 05 (năm) con chung là Phạm Minh C, sinh năm 1995, Phạm Thị Tuyết S, sinh năm 1998, Phạm Minh P, sinh năm 2004, Phạm Khánh H, sinh ngày 26/6/2007 và Phạm Đức T, sinh ngày 05/4/2012. Đối với cháu C, cháu S và cháu P đã trưởng thành và có khả năng lao động nên Tòa án không giải quyết. Đối với cháu H và cháu T, giao cháu H và cháu T cho ông Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Đ không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Các đương sự có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được gây cản trở. Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
1.3. Về tài sản chung: Tòa án không ghi nhận được yêu cầu của đương sự về việc giải quyết tài sản chung, nợ chung nên không giải quyết. Khi nào có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
1.4. Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí: Bà Vũ Thị Hồng N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà N đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0003201 ngày 10/3/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Bà N đã nộp đủ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thờ i hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự (Để thi hành); - VKSND huyện Tân Phú; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Chi cục THADS huyện Tân Phú; - UBND xã P X, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (Đăng ký kết hôn số 112 ngày 03/12/2020); - Lưu hồ sơ vụ án, Lưu trữ cơ quan. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Nam |