vanban.org

Bản án 96/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước Tuyên án 27/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

h, khoản 1, điều 52, các điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung

bị cáo bị tạm giữ, tạm giam: ngày 14/4/2022. sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh H - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? h, khoản 1, điều 52, các điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƠN THÀNH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 96/2022/HSST
Ngày 27 tháng 9 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Khoản

Ông Phạm Xuân Đính

- Thư ký phiên toà: Võ Thị Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Thân Văn Chẻo – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2022 tại Toà án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/2022/TLST - HS ngày 09 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2022/QĐXXST-HS ngày 16/9/2022 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Minh H, giới tính: Nam;

- Tên gọi khác: Đen

- Sinh năm 1988 tại: tỉnh Bình Phước;

- Nơi cư trú: tổ 7, ấp 2, xã Minh H, huyện C, tỉnh P.

- Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

- Tôn giáo: Không

Trình độ văn hoá: Không biết chữ

- Nghề nghiệp: Không

- Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1959 (đã chết)

- Con bà: Hoàng Thị H, sinh năm: 1963

- Con: có 01 người, sinh năm 2010

- Ngày 30/5/2022, có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chơn Thành bắt quả tang và bị tạm giữ. Ngày 07/6/2022, bị khởi tố, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Chơn Thành cho đến nay.

- Tiền án: 02.

+ Ngày 28/3/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 06 tháng tù theo Bản án số 21/2018/HSST về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Ngày 16/01/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 03 năm tù theo Bản án số 08/2020/HSST về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản”. Ngày 15/02/2022, chấp hành xong hình phạt.

- Tiền sự: không.

- Về nhân thân: Ngày 10/01/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 24 tháng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. ông Ngô Duy T, sinh năm: 1991, địa chỉ cư trú: tổ 12, ấp 2, thị trấn C, huyện C, tỉnh P. (Vắng mặt)

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Nh, sinh năm: 1992, địa chỉ cư trú: tổ 12, ấp 2, thị trấn C, huyện C, tỉnh P. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 30/5/2022, Nguyễn Minh H và Nguyễn Trị Quốc (tên thường gọi: Quậy), sinh năm 1990, nơi cư trú: ấp Cây Liễu, xã Minh Thạnh, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đang uống cà phê tại quán không tên ở chợ Minh Hưng, huyện Chơn Thành thì có bạn tên Lì (chưa rõ nhân thân gọi điện thoại và nói với Hưng “Hết tiền rồi, còn đồ (ma túy đá) không đưa xuống nhà nghỉ Oxy cho Lì sử dụng cùng” thì Hưng đồng ý. Lúc này, Hưng gọi điện thoại cho Sơn (chưa rõ nhân thân) là đối tượng bán ma túy đá ở khu vực xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành để hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy đá và mượn một nỏ thủy tinh để sử dụng ma túy thì Sơn đồng ý, Sơn hẹn Hưng chạy đến khu vực đường bê tông ở gần nhà nghỉ Ba Khiêm thuộc ấp 3B, xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành để mua bán. Do không có phương tiện để đi lấy ma túy, lúc này Hưng hỏi Quốc “có quen biết ai có xe không, cho mượn đi mua cơm ăn”. Nghe vậy, Quốc gọi điện cho bạn tên Ngô Duy T, SN 1991, Nơi cư trú: Tổ 12, ấp 2, TT Chơn Thành, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Attila, loại Elizabeth, màu vàng, biển số 93B1 – 107.04 đến quán đưa cho Hưng mượn. Hưng điều khiển xe một mình về nhà ở ấp 2, xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành lấy số tiền 600.000 đồng để đi mua ma túy. Lấy tiền xong, Hưng điều khiển xe chạy đến địa điểm mà Sơn đã hẹn trước đó và Hưng tiếp tục gọi điện cho Sơn. Khoảng 02 – 03 phút sau có một nam thanh niên (không rõ nhân thân) chạy xe cúp 50, không rõ biển số đến gặp Hưng, người thanh niên giao cho Hưng 02 (hai) gói ma túy đá và 01 (một) nỏ thủy tinh, Hưng đưa cho người này 300.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong, Hưng bỏ 02 (hai) gói ma túy vào trong túi quần Kaki màu xám bên trái, còn nỏ thủy tinh Hưng bỏ túi quần bên phải và điều khiển xe đến nhà nghỉ Oxy. Lúc này, Hưng gọi điện cho Lì thì Lì nói để Lì và bạn Lì đến phòng số 02, nhà nghỉ Oxy cùng sử dụng ma túy. Trong lúc, Hưng đang đứng tại đường bê tông trước nhà nghỉ Oxy thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Chơn Thành phát hiện và bắt quả tang (BL 01-02; 40-41; 47-52; 55-58).

Kết luận giám định số: 115/KL(MT)-KTHS ngày 03 tháng 6 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước xác định:

- Tinh thể màu trắng có trong 02 (hai) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,4348 gam.

- Chất màu nâu có trong ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0557 gam (BL 36-37).

Việc thu giữ đồ vật tài liệu và xử lý vật chứng:

- 01 (một) phong bì có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước bên trong có chứa 0,3709 gam Methamphetamine (ma túy đá, là mẫu vật hoàn lại sau giám định) (BL 35);

- 01 (một) phong bì có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước bên trong có chứa 01 ống thủy tinh (nỏ thủy tinh) (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) (BL 34).

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo 1906, màu xanh, màn hình cảm ứng, kèm theo sim số 0373261423 của bị can Nguyễn Minh H. Quá trình điều tra xác định Hưng sử dụng điện thoại làm phương tiện liên lạc để mua ma túy sử dụng (BL 01-02).

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Attila, số loại Elizabeth, màu vàng biển số 93B1 – 107.04, số máy: VTBA-D064769, số khung: 12GDBD064769 là phương tiện Hưng sử dụng để đi mua ma túy. Chiếc xe do chị Nguyễn Thị Ngọc Trâm, sinh năm 1994, nơi cư trú: Tổ 5, Kp Trung Lợi, TT Chơn Thành, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đứng tên sở hữu. Năm 2018, chị Trâm lập gia đình và chuyển đến sinh sống ở quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng thì chị Trâm đã giao chiếc xe trên cho chị ruột là Nguyễn Thị Ngọc Nh, SN 1992 và anh rể là Ngô Duy T, SN 1991 cùng HKTT: Tổ 12, ấp 2, TT Chơn Thành, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước quản lý, sử dụng. Ngày 30/5/2022, anh Tân cho Hưng mượn xe mô tô nói trên để đi công việc cá nhân (mua cơm), việc Hưng sử dụng chiếc xe làm phương tiện đi mua ma túy thì anh Tân không biết. Xe có giấy tờ hợp pháp, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại chị Nhung (BL 85-87; 92; 95).

Bản cáo trạng số 88/CTr-VKS, ngày 08/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm o, khoản 2, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o, khoản 2, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tuyên bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 06 năm đến 07 năm tù.

Tại phiên tòa: bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố, không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Việc vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt gửi Tòa án do đó Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại đều 292 Bộ Luật Tố tụng hình sự.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 30/5/2022, tại tổ 8B, ấp 2, xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Nguyễn Minh H có hành vi tàng trữ trái phép 0,4905 gam ma túy, loại Methaphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của Nguyễn Minh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngoài hành vi này, trước đó, bị cáo đã bị kết án tại Bản án số 08/2020/HSST ngày 16/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tuyên phạt bị cáo Nguyễn Minh H 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản”, với tình tiết tăng nặng “tái phạm”, chưa được xóa án tích. Do đó, đối chiếu với qui định tại điểm b khoản 2 Điều 53BLHS, lần phạm tội này, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng định khung là “tái phạm nguy hiểm”;

Do đó có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 88/CTr-VKS, ngày 08/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo quy định tại điểm c điểm o, khoản 2, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy 1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) …..

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

......................................

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

.....................................

o) Tái phạm nguy hiểm.

.....................................

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý để phục vụ trong y học, là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự địa phương, vi phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi; nên phải chị trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Từ phân tích trên, cần xử phạt bị cáo mức án đủ nghiêm, cách li bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về vật chứng:

- 01 (một) phong bì có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước bên trong có chứa 0,3709 gam Methamphetamine (ma túy đá, là mẫu vật hoàn lại sau giám định) và 01 (một) phong bì có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước bên trong có chứa 01 ống thủy tinh (nỏ thủy tinh) (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo 1906, màu xanh, màn hình cảm ứng, kèm theo sim số 0373261423 của bị cáo Nguyễn Minh H sử dụng điện thoại làm phương tiện liên lạc để mua ma túy sử dụng nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm o, khoản 2, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 06 (sau) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam: ngày 30/5/2022.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước bên trong có chứa 0,3709 gam Methamphetamine (ma túy đá, là mẫu vật hoàn lại sau giám định) và 01 (một) phong bì có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước bên trong có chứa 01 ống thủy tinh (nỏ thủy tinh) (là mẫu vật hoàn lại sau giám định)

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo 1906, màu xanh, màn hình cảm ứng, kèm theo sim số 0373261423 của bị cáo Nguyễn Minh H.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ