- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn Thanh B và đồng bọn - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thanh B, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn X, Phạm Văn T, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Cao T phạm tội "Đánh bạc".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2022/HS-ST Ngày: 26/05/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V
- Thành phần Hội đồng xét xử so thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh T
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Kim Hoa, bà Dương Thị Thúy V
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án TP V.
- Đại diện VKSND Thành phố V tham gia phiên tòa: Bà Tạ Minh Hảo - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 26/5/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP V, tỉnh N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/2022/TLST-HS ngày 22/04/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Thanh B - Sinh ngày 09/05/1975 tại TP V, tỉnh N; Nơi cư trú: Xóm 4, xã N, TP V, tỉnh N; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: lớp 10/12; Đoàn thể, đảng phái: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc Th và bà Nguyễn Thị H; Vợ: Hoàng Trần D, sinh năm 1981; Con: có 03 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân:- Ngày 24/12/1999 bị Tòa án nhân dân TP V, tỉnh N xử phạt 06 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/03/2000; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/02/2022 đến ngày 16/02/2022 được trả tự do, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn N - Sinh ngày 01/08/1976 tại huyện Nghi L, tỉnh N; Nơi cư trú: Xóm 9, xã N, huyện Nghi L, tỉnh N; Nơi tạm trú: Xóm 4, xã N, TP V, tỉnh N; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: lớp 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Nguyễn Văn Y và bà Nguyễn Thị H; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1978; Con: có 03 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân :
- Ngày 27/05/2009 bị Tòa án nhân dân TP V, tỉnh N xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 28 tháng 08 ngày về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; Bị tạm giữ từ ngày 07/02/2022 đến ngày 16/02/2022 được trả tự do, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – có mặt tại phiên tòa. ơ
3. Họ và tên: Nguyễn Văn X - Sinh ngày 01/01/1978 tại TP V, tỉnh N; Nơi cư trú : Xóm 5, xã N, TP V, tỉnh N; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: lớp 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Đoàn thể, đảng phái: không; Con ông: Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị H; Vợ : Phạm Thị Th, sinh năm 1981; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không; Bị tạm giữ từ ngày 07/02/2022 đến ngày 16/02/2022 được trả tự do, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Phạm Văn T - Sinh ngày 27/6/1980 tại TP V, tỉnh N; Nơi cư trú: Xóm 4, xã N, TP V, tỉnh N; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: lớp 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Phạm Văn Th và bà Nguyễn Thị H; Vợ : Nguyễn Thị D, sinh năm 1978 ; Con : có 03 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị tạm giữ từ ngày 07/02/2022 đến ngày 16/02/2022 được trả tự do, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: Nguyễn Thanh T - Sinh ngày 12/01/1976 tại TP V, tỉnh N; Nơi cư trú: Xóm 7, xã N, TP V, tỉnh N; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Minh Đ; Vợ: Nguyễn Thị Ngọc Th, sinh năm 1977; Con: có 02 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân : - Ngày 15/12/2005 bị Công an TP V, tỉnh N xử phạt hành chính số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Đánh bạc”; Bị tạm giữ từ ngày 07/02/2022 đến ngày 16/02/2022 được trả tự do, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – có mặt tại phiên tòa.
6. Họ và tên: Nguyễn Cao T - Sinh ngày 15/7/1982 tại TP V, tỉnh N; Nơi cư trú: Xóm 4, xã N, TP V, tỉnh N; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Nguyễn Công L và bà Nguyễn Thị A; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không; Bị tạm giữ từ ngày 07/02/2022 đến ngày 16/02/2022 được trả tự do, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 07/02/2022, Nguyễn Văn X, Nguyễn Cao T, Nguyễn Văn N, Phạm Văn T cùng đến nhà Nguyễn Thanh B ở xóm 4, xã N, thành phố V chơi. Một lúc sau thì Nguyễn Văn X, Nguyễn Cao T, Nguyễn Văn N, Phạm Văn T cùng nói với Nguyễn Thanh B "Cho chơi vài ván bài" thì B đồng ý và đưa cho con trai là Nguyễn Hoàng Đức Huy (Sinh năm 2007, trú tại xóm 4, xã N, thành phố V) số tiền 20.000 đồng để đi mua bài tu lơ khơ. Một lúc sau, Huy đưa về 02 (hai) bộ bài tu lơ khơ đặt trên bàn gần phòng bếp. Sau đó, Nguyễn Văn X, Nguyễn Cao T, Nguyễn Văn N, Phạm Văn T lấy 02 bộ bài tu lơ khơ đi vào khu vực bếp thuộc tầng một để đánh bạc bằng hình thức đánh bài ba cây, đặt cửa mỗi ván thấp nhất là 20.000 đồng. Sau khi các đối tượng đánh bạc được khoảng 15 phút thì Nguyễn Cao T và Nguyễn Văn X đi ra phòng khách và mỗi người mừng tuổi cho Nguyễn Thanh B 50.000 đồng, rồi lại tiếp tục vào đánh bạc. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Thanh T đi đến nhà Nguyễn Thanh B chơi thì thấy các đối tượng đang đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây. Lúc này, Nguyễn Thanh T cùng Nguyễn Văn X, Nguyễn Cao T, Nguyễn Văn N, Phạm Văn T thống nhất chuyển sang đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa với số tiền đặt cửa mỗi ván thấp nhất là 100.000 đồng. Nguyễn Văn X đã cắt 04 (bốn) con xúc xắc từ quân bài tu lơ khơ màu X, còn Nguyễn Cao T lấy 01 bộ bát đĩa sứ màu trắng trong tủ bếp để đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa. Đến 22 giờ 20 phút cùng ngày, khi Nguyễn Văn X, Nguyễn Cao T, Nguyễn Văn N, Phạm Văn T và Nguyễn Thanh T đang đánh bạc thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh N phối hợp với Công an xã N, TP V bắt quả tang. Thu giữ tại chiếu bạc 02 (hai) bộ bài tu lơ khơ loại 36 quân bài (từ quân bài Át đến quân bài Chín); 01 (một) bộ bát, đĩa sứ màu trắng, 04 (bốn) con xúc xắc và thu giữ số tiền 40.200.000 đồng (Trong đó thu giữ của Phạm Văn T số tiền 8.100.000 đồng, Nguyễn Văn X số tiền 10.200.000 đồng, Nguyễn Thanh T số tiền 9.700.000 đồng, Nguyễn Cao T số tiền 3.000.000 đồng, Nguyễn Văn N số tiền 9.100.000 đồng và Nguyễn Thanh B tự nguyện giao nộp số tiền 100.000 đồng). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi đánh bạc, thu giữ, niêm phong vật chứng theo đúng quy định.
Quá trình điều tra, theo lời khai của các đối tượng tham gia đánh bạc thì số tiền Nguyễn Văn X, Nguyễn Cao T, Nguyễn Văn N, Phạm Văn T và Nguyễn Thanh T dùng để đánh bạc và nguồn gốc số tiền Nguyễn Thanh B tự nguyện giao nộp như sau:
- Nguyễn Văn X khai khi vào đánh bạc mang theo số tiền 1.400.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, X đã mừng tuổi cho Nguyễn Thanh B số tiền 50.000 đồng và đến khi bị bắt X thắng 8.850.000 đồng. Toàn bộ số tiền 10.200.000 đồng X cất giữ trong người đã bị thu giữ.
- Nguyễn Cao T khai khi vào đánh bạc mang theo số tiền 3.700.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, T đã mừng tuổi cho Nguyễn Thanh B số tiền 50.000 đồng và đến khi bị bắt T thua số tiền 650.000 đồng. Số tiền còn lại 3.000.000 đồng T cất giữ trong người đã bị thu giữ.
- Nguyễn Văn N khai khi vào đánh bạc mang theo số tiền 10.700.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, N thua bạc số tiền 1.600.000 đồng. Số tiền còn lại 9.100.000 đồng N cất giữ trong người đã bị thu giữ.
- Phạm Văn T khai khi vào đánh bạc mang theo số tiền 14.400.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, T thua bạc số tiền 6.300.000 đồng. Số tiền còn lại 8.100.000 đồng khi công an vào bắt, do hoảng sợ nên T vứt cạnh chân cầu thang tầng 1 đã bị thu giữ.
-Nguyễn Thanh T khai khi vào đánh bạc mang theo số tiền 10.000.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, T thua bạc số tiền 300.000 đồng. Số tiền còn lại 9.700.000 đồng T cất giữ trong người đã bị thu giữ.
- Thu giữ tại Nguyễn Thanh B số tiền 100.000 đồng là tiền X và T lấy từ số tiền các đối tượng dùng đánh bạc để mừng tuổi cho B.
Như vậy, lời khai của Nguyễn Văn X, Nguyễn Cao T, Nguyễn Văn N, Phạm Văn T và Nguyễn Thanh T về số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc phù hợp với số tiền Cơ quan điều tra thu giữ được tại các đối tượng khi bắt quả tang và phù hợp với chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở để xác định tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 40.200.000đ (Bốn mươi triệu hai trăm nghìn đồng), bao gồm số tiền thu giữ của Phạm Văn T số tiền 8.100.000 đồng, Nguyễn Văn X số tiền 10.200.000 đồng, Nguyễn Thanh T số tiền 9.700.000 đồng, Nguyễn Cao T số tiền 3.000.000 đồng, Nguyễn Văn N số tiền 9.100.000 đồng và Nguyễn Thanh B số tiền 100.000 đồng.
Cáo trạng số 107/CT – VKS-TPV ngày 21/04/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố các bị cáo: Nguyễn Thanh B, Nguyễn Văn X, Nguyễn Văn N, Nguyễn Cao T, , Phạm Văn T, Nguyễn Thanh T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân TP V giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX: - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt các bị cáo: Nguyễn Thanh B, Nguyễn Văn N mỗi bị cáo từ 24 đến 27 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 48 đến 54 tháng. Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn X, Phạm Văn T, Nguyễn Thanh T mỗi bị cáo từ 18 đến 21 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 36 đến 42 tháng. Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Cao T từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 30 đến 36 tháng. Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng các điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS, các điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tu lơ khơ, 01 bộ bát đĩa sứ trắng và 04 con xúc xắc các bi cáo sử dụng làm công cụ phạm tội. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 40.200.000 đồng hiện có tại kho bạc nhà nước tỉnh N. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 BLTTHS, điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thanh B, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn X, Phạm Văn T, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Cao T đều khai nhận về hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không có ý kiến tranh luận gì mà chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Thanh B, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn X, Phạm Văn T, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Cao T đều khai nhận: Vào hồi 22 giờ 20 phút ngày 07/02/2022 tại nhà riêng của Nguyễn Thanh B (xóm 4, xã N, TP V, tỉnh N) các bị cáo đang đánh bạc bằng hình thức “Xóc đĩa”, mỗi ván đặt cửa thấp nhất là 100.000 đồng thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh N phối hợp với Công an xã N, TP V bắt quả tang. Lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi sát phạt nhau bằng tiền thông qua hình thức đánh bài “xóc đĩa” mà các bị cáo Nguyễn Thanh B, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn X, Phạm Văn T, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Cao T thực hiện đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.
[2.2]. Vụ án thuộc loại ít nghiêm T, có đồng phạm nhưng thuộc loại giản đơn. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã gây mất trật tự trên địa bàn thành phố V nói riêng và trật tự trị an xã hội nói chung và còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Mặc dù các bị cáo đều biết rõ đánh bạc là một tệ nạn xã hội bị nhà nước nghiêm cấm nhưng do hám lợi bất chính, ý thức chấp hành pháp luật kém nên các bị cáo vẫn ngang nhiên sát phạt nhau, vì vậy cần phải xử lý nghiêm. Xét vai trò và mức độ tham gia của các trong vụ án này thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Thanh B tuy không tham gia đánh bạc nhưng là người tạo địa điểm và chuẩn bị công cụ phạm tội để các bị cáo đánh bạc tại nhà ở của mình, hành vi đó của bị cáo có dấu hiệu của tội “Tổ chức đánh bạc” nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm tổ chức đánh bạc nên cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng. Xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng, hành vi phạm tội của bị cáo mang tính đồng phạm giản đơn. Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo có công với cách mạng, cả bố và mẹ của bị cáo đều được nhà nước tặng thưởng huân huy chương kháng chiến các loại nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 BLHS. Các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn X, Phạm Văn T, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Cao T đều tham gia trong cùng một chiếu bạc nên vai trò của các bị cáo là ngang nhau.
Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng và đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ đó là khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra các bị cáo Nguyễn Văn X, Phạm Văn T, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Cao T còn được hưởng thêm tình tiết phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm T được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Nguyễn Cao T có thành tích xuất sắc trong công tác quốc phòng an ninh năm 2021, được chủ tịch UBND xã N, TP V tặng giấy khen, gia đình có ông nội là liệt sỹ là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo Nguyễn Thanh T có mẹ được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng 3, bị cáo Nguyễn Văn N có thành tích tích cực trong công tác phòng chống dịch Covid tại địa phương, được UBND xã N, TP V xác nhận đều là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Xét thấy các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo bản thân nên chưa cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội mà cần xử cho các bị cáo được hưởng án treo như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, để các bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.
[2.3]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 BLHS thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng nhưng xét thấy các bị cáo đều không có việc làm, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt tiền cho các bị cáo.
[2.4]. Về xử lý vật chứng: Gồm 02 bộ bài tulơkhơ, 01 bộ bát đĩa sứ màu trắng và 04 con xúc xắc các bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 40.200.000đ (Bốn mươi triệu, hai trăm nghìn đồng) các bị cáo sử dụng đánh bạc cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
2.5]. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thanh B, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn X, Phạm Văn T, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Cao T phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này còn có cháu Nguyễn Hoàng Đức Huy là người được Nguyễn Thanh B nhờ đi mua 02 bộ bài tú lơ khơ, cháu Huy không biết mục đích mua bài về để sử dụng đánh bạc. Tại thời điểm đó cháu Huy mới 14 tuổi 6 tháng 19 ngày, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của cháu Huy không bị xử lý theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thanh B, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn X, Phạm Văn T, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Cao T phạm tội "Đánh bạc".
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt: Nguyễn Thanh B 24 (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/5/2022.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt: Nguyễn Văn N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng. Thời hạn tử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/5/2022.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt: Nguyễn Văn X 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/5/2022.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt: Phạm Văn T 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/5/2022.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt: Nguyễn Thanh T 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/5/2022.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt: Nguyễn Cao T 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 30 (Ba mươi) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/5/2022.
Giao các bị cáo Nguyễn Thanh B, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn X, Phạm Văn T, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Cao T cho UBND xã N, TP V, tỉnh N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay ®æi n¬i cư tró thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS: - Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bộ bài tulơkhơ, 01 (một) bộ bát đĩa sứ màu trắng và 04 (bốn) con xúc xắc các bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội hiện có tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự TP V, có đặc điểm theo phiếu nhập kho số NK2022/127 ngày 12/05/2022. - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 40.200.000đ (Bốn mươi triệu, hai trăm nghìn đồng) hiện có tại kho bạc nhà nước tỉnh N, theo “Biên bản giao nhận tài sản” số 08/2022 ngày 01/03/2022 và phiếu nhập kho ngày 01/03/2022.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Thanh B, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn X, Phạm Văn T, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Cao T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/05/2022), các bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh N. /.
| Nơi nhận: - Bị cáo - VKS ND TP V; - VKS ND tỉnh N; - Công an TP V; - Chi cục THADS TP V; - Trại TG công an N; - TAND tỉnh N; - Sở tư pháp tỉnh N; - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khánh Toàn |