vanban.org

Bản án 96/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 17/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuy”;

Xử phạt: Trần Thanh L 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án (được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2021 đến ngày 05/01/2022). Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định bao gồm: 01 gói niêm phong vụ số 1773/KLGĐ-PC09 ngày 03/9/2021 của… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh L - Tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thanh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuy”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ
TỈNH ĐỒNG NAI
–––––––––––––––
Bản án số: 96/2022/HS-ST
Ngày 17-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Công Gia.

2. Bà Trần Thị Yến Nhi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 64/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2022/HSST-QĐ ngày 29/7/2022 đối với bị cáo:

Trần Thanh L, sinh năm 1987, tại Đồng Tháp.

Nơi cư trú: số nhà 51, ấp Phú L 3, xã s, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh Đ - sinh năm 1953 và bà Phạm Thị M - sinh năm 1960; vợ tên là Lê Thị Ph– sinh năm 1989, có 04 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 28/8/2021 và bị tạm giữ, tạm giam đến ngày 05/01/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Lê Thị Ph- sinh năm 1989; nơi cư trú: số nhà 51, ấp Phú L 3, xã Phú Sơn, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

- Người làm chứng: ông Phạm Ngọc Tr, ông Nguyễn Công S(tất cả vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 11 giờ 40 phút ngày 28/8/2021, tại tổ 3 ấp Phú L 3, xã S, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Cơ quan Công an xã S, huyện Tân Phú đã phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Thanh L đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Quá trình điều tra xác định như sau: Trần Thanh L là đối tượng nghiện ma túy. Từ khoảng tháng 02 năm 2021 đến ngày 27/8/2021 L nhiều lần mua ma túy của một đối tượng tên Chung Tình ở Thành phố Hồ Chí Minh nhằm mục đích sử dụng. Cách thức liên lạc mua bán như sau: L điện thoại vào số 0933.139.179 của Chung Tình đặt mua ma túy rồi chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng mỗi lần một số khác nhau. Tiếp đó, Chung Tình gửi xe khách đưa ma túy về huyện Tân Phú cho L. Sau khi nhận được ma túy, L mang về nhà sử dụng. Buổi trưa ngày 28/8/2021, do L có biểu hiện sử dụng ma túy nên Công an xã Phú Sơn đến nhà L thuộc tổ 3 ấp Phú L 3, xã Phú Sơn, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai mời về trụ sở làm việc. Tại đây, L thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy rồi tự nguyện giao nộp số ma túy đang cất dấu trong nhà.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tân Phú, Trần Thanh L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Tang vật thu giữ gồm: 04 gói ny long hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (ma túy); 01 gói nilong bên trong chứa 8 viên nén màu xanh dài 01cm; 01 mảnh vỡ viên nén màu xanh dài 0,5cm; 01 bộ dụng cụ gồm đĩa sứ dạng tròn kích thước 20cm và 01 thẻ nhựa cứng màu đen có ghi “thẻ lái xe”; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu vàng có gắn sim số 0338.762.389.

Tại bản Kết luận giám định số 1773/KLGĐ-PC09 ngày 03/9/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: 04 gói ny long bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 19,8726 gam, loại Ketamine (mẫu vật sau giám định còn lại là 19,280 gam); 08 viên nén màu xanh và 01 mảnh vỡ viên nén màu xanh (kí hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 3,5118 gam loại MDMA và Methamphetamine (mẫu vật còn lại sau giám định là 3,3723 gam).

Tại Cáo trạng số 28/CT-VKSTP ngày 22 tháng 02 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Trần Thanh L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm n, khoản 2, Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa trình bày luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo, cụ thể như sau:

Áp dụng điểm n, khoản 2, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017: đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Thanh L từ 06 năm tù đến 07 năm tù giam.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: đề nghị Tòa án tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong số 1773/KLGĐ-PC09 có dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai bên trong có chứa ma túy loại Ketamine, MDMA, Methamphetamine và 01 bộ dụng cụ gồm: 01 đĩa sứ dạng tròn kích thước 20cm và 01 thẻ nhựa cứng màu đen có ghi “thẻ lái xe”.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị áp dụng đối với bị cáo và không có ý kiến hay tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét thấy lời khai nhận tội tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với vật chứng của vụ án, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa cụ thể như sau: Vào ngày 28/8/2021, Trần Thanh L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Ketamine có khối lượng 19,8726 gam, MDMA và Methamphetamine có khối lượng 3,5118 gam để sử dụng thì bị Cơ quan Công an xã Phú Sơn, huyện Tân Phú phát hiện bắt giữ cùng tang vật. Do đó, có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 28/CT-VKSTP ngày 22 tháng 02 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Trần Thanh L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm n, khoản 2, Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng cho sức khỏe con người và là cầu nối của đại dịch HIV. Đồng thời nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác như giết người, cướp tài sản…Trong vụ án này, bị cáo là công dân có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma túy và những quy định cấm đoán của pháp luật đối với hành vi phạm tội về ma túy. Song để thỏa mãn nhu cầu ích kỷ của bản thân mà bị cáo đã bất chấp tất cả để tàng trữ trái phép chất ma túy, nên cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng luật hình để giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo có những tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự như: bị cáo có hoàn cảnh gia đình kinh tế khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi các con còn nhỏ, từ khi được tại ngoại cho đến nay bị cáo tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, chấp hành tốt chính sách pháp luật của địa phương, không vi phạm pháp luật.

Từ những phấn tích nêu trên, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo khi lượng hình và tuyên cho bị cáo một mức án hình phù hợp để bị cáo sớm được trở về đoàn tụ với gia đình lo cho 04 con nhỏ và sớm được tái hòa nhập cộng đồng, đồng thời mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo cũng thể hiện sự nhân đạo của pháp luật, nhưng đảm bảo các điều kiện đủ để răn đe giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.

Mặt khác, trong vụ án này bị cáo bị bắt quả tang ngày 28/8/2021 và bị tạm giam đến ngày 05/01/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay, từ khi được tại ngoại cho đến khi xét xử thì bị cáo chấp hành tốt các quy định của pháp luật cũng như các cơ quan tố tụng, không có căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục phạm tội, nên Hội đồng xét xử không bắt tạm giam bị cáo ngay tại phiên tòa.

Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác trong vụ án

- 01 phong bì được niêm phong số 1773/KLGĐ-PC09 có dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai bên trong có chứa ma túy loại Ketamine, MDMA, Methamphetamine là chất nhà nước cấm lưu hành; 01 bộ dụng cụ dùng vào việc phạm tội gồm đĩa sứ dạng tròn kích thước 20cm và 01 thẻ nhựa cứng màu đen có ghi “thẻ lái xe”. Toàn bộ vật chứng nêu trên cần phải tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu vàng có gắn sim số 0338.762.389 thuộc sở hữu của bà Lê Thị Phương, bà Phương không biết bị cáo dùng điện thoại vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú đã trao trả cho bà Phương là có cơ sở nên không xét.

- Đối với đối tượng tên Chung Tình có hành vi bán cho Trần Thanh L ma túy loại Ketamine có khối lượng 19,8726 gam, MDMA và Methamphetamine có khối lượng 3,5118 gam, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, khi nào làm rõ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh đối với bị cáo, hình phạt, xử lý vật chứng và các vấn đề khác.

Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuy”;

Căn cứ vào điểm n, khoản 2, Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Xử phạt: Trần Thanh L 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án (được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2021 đến ngày 05/01/2022).

Căn cứ theo Điều Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định bao gồm: 01 gói niêm phong vụ số 1773/KLGĐ-PC09 ngày 03/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai bên trong chứa loại Ketamine còn lại 19,280 gam, loại MDMA và Methamphetamine còn lại 3,3723 gam;

- Tịch thu tiêu hủy 01 đĩa sứ dạng tròn kích thước 20cm và 01 thẻ nhựa cứng màu đen có ghi “thẻ lái xe”.

(Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú để đảm bảo cho việc thi hành án theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/5/2022).

Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết công khai.

Cỡ chữ