vanban.org

Bản án 96/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Tuyên án 25/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị M1 phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị M1 12 (M1 hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/10/2022). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị M1 phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2022/HS-ST
Ngày 25-10-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tươi.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Văn Đông.

2. Ông Vũ Quốc Phòng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2022 đối với:

- Bị cáo Phạm Thị M1, sinh năm 1965; nơi cư trú: Tổ dân phố số x, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Công B (đã chết) và bà Đỗ Thị N (đã chết); chồng: Phạm Xuân D; con: Có 03 con (lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 2010); tiền án; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ: Từ ngày 11/7/2022 đến ngày 20/7/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại tại địa phương; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Phạm Văn M, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ dân phố số x, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt; có đơn xin vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Trịnh Tiến H; anh Bùi Anh T; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Thị M1 không có hợp đồng làm đại lý xổ số cho Công ty TNHH MTV xổ số kiến thiết tỉnh Hà Nam. Từ đầu năm 2022, M1 bắt đầu ghi bán lô đề trái phép cho những người đến chơi tại nhà mình ở tổ dân phố số x, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam nhằm thu lợi bất chính.

Hàng ngày, M1 trực tiếp ghi cáp lô đề cho những người đến chơi mua. Khi người đến chơi mua số lô, số đề, M1 thu tiền, ghi ngày chơi, số lô đề và số tiền mà người chơi đã chọn vào 01 mảnh giấy trắng được cắt ra từ tờ giấy A4 (gọi là cáp đề) do M1 chuẩn bị từ trước, ký tên mình vào đó và giao cho người chơi để làm căn cứ thanh toán thắng - thua sau này. Sau đó, M1 ghi lại số lô đề và số tiền này vào tờ tổng bảng là tờ giấy A4.

Theo quy ước giữa M1 và những người chơi lô, đề thì việc chơi lô, đề dựa vào kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc quay thưởng trên kênh VTC9 vào lúc 18 giờ 15 phút hàng ngày, cụ thể như sau:

Đề 2 số: Người chơi tự chọn số có 2 chữ số bất kỳ từ 00 đến 99 và số tiền chơi, nếu số đã mua trùng với 2 số cuối của giải đặc biệt thì người chơi thắng bạc và được hưởng số tiền gấp 70 lần số tiền bỏ ra chơi;

Đề 3 số: Tương tự như đề 2 số, người chơi chọn mua số có 3 chữ số từ 000 đến 999, nếu số đã mua trùng với 3 số cuối của giải đặc biệt thì họ thắng bạc và được hưởng số tiền gấp 400 lần số tiền bỏ ra chơi;

Lô bao: Người chơi chọn mua số có 02 chữ số bất kỳ từ 00 đến 99 và số tiền chơi. Cách tính theo điểm, mỗi điểm tương ứng với 23.000 đồng. Nếu người chơi chọn mua số trùng với 2 số cuối cùng của giải nào đó (từ giải đặc biệt đến giải bảy) thì họ thắng bạc và được hưởng số tiền là 80.000 đồng/1 điểm;

Lô xiên 2: Người chơi chọn mua một bộ 2 số bất kỳ, mỗi số có 2 chữ số. Cách tính theo điểm, mỗi điểm tương ứng với 10.000 đồng, nếu cả 2 số người chơi chọn mua trùng với 2 chữ số cuối cùng của giải nào đó (từ giải đặc biệt đến giải bảy) thì họ thắng bạc và được hưởng 100.000 đồng/1 điểm;

Lô xiên 3: Người chơi chọn mua một bộ 3 số bất kỳ, mỗi số có 2 chữ số. Cách tính theo điểm, mỗi điểm tương ứng với 10.000 đồng, nếu cả 3 số người chơi chọn mua trùng với 2 chữ số cuối cùng của giải nào đó (từ giải đặc biệt đến giải bảy) thì họ thắng bạc và được hưởng 400.000 đồng/1 điểm;

Lô xiên 4: Người chơi chọn mua một bộ 4 số bất kỳ, mỗi số có 2 chữ số. Cách tính theo điểm, mỗi điểm tương ứng với 10.000 đồng, nếu cả 4 số người chơi chọn mua trùng với 2 chữ số cuối cùng của giải nào đó (từ giải đặc biệt đến giải bảy) thì họ thắng bạc và được hưởng 1.000.000 đồng/1 điểm;

Ngược lại, những người chơi số lô, đề không thuộc các trường hợp trên là thua bạc, sẽ mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra chơi.

Như thường lệ, khoảng 17 giờ 50 phút ngày 11/7/2022, Phạm Thị M1 đang ghi số lô, đề trái phép cho Phạm Văn M, sinh năm 1973, cư trú tại tổ dân phố số x, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam với các con số cụ thể là: Số đề gồm 25,12,92,81, mỗi con 30.000 đồng = 120.000 đồng; Lô bao số 63 là 50 điểm x 23.000đ/điểm = 1.150.000 đồng. Tổng cộng là 1.270.000 đồng, M1 khuyến mại cho M nên M1 chỉ lấy của M số tiền 1.250.000 đồng. Do trước đó M1 còn nợ M số tiền 600.000 đồng nên M chỉ phải trả cho M1 số tiền 650.000 đồng nhưng M không đem theo tiền nên M1 cho M nợ và đã ghi vào tờ cáp đề là nợ 650. Sau khi ghi xong, M1 ký tên mình vào tờ cáp đề rồi đưa cho M thì bị tổ công tác Công an thị xã Duy Tiên và Công an phường H phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ các vật chứng có liên quan.

Vật chứng thu giữ gồm: Thu trên người Phạm Thị M1: Số tiền 12.225.000 đồng; thu trên phản gỗ tại phòng khách nơi bị cáo ghi lô đề trái phép cho khách: 01 bút bi mực màu đen nhãn hiệu “Matiz”, 01 tờ tổng bảng bằng giấy A4, bên trên có ghi các số và chữ; thu dưới đất tại phòng khách nhà bị cáo 01 tờ cáp có KT(10x7)cm, bên trên có ghi các số và chữ.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Thị M1, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên không thu giữ tài sản, đồ vật gì.

Tổng số tiền lô, đề mà Phạm Thị M1 ghi trái phép cho người chơi tại nhà mình trong ngày 11/7/2022 cho đến khi bị bắt giữ là: Đề 2 số ghi số tiền là 2.099.000đ, lô bao ghi 272 điểm x 23.000đ là 6.256.000đ, tổng cộng là 8.355.000 đồng.

Cáo trạng số 90/CT-VKS- DT ngày 30/9/2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Phạm Thị M1 mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí của vụ án.

Trong phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và các chức danh tư pháp đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Phạm Thị M1 là người trực tiếp thu tiền và bán số lô, đề trái phép cho những người chơi. Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 11/7/2022, Phạm Thị M1 đang ghi số lô, đề trái phép cho Phạm Văn M với tổng số tiền 1.250.000 đồng thì bị tổ công tác Công an thị xã Duy Tiên bắt quả tang. Tổng số tiền Phạm Thị M1 ghi lô, đề cho người chơi trong ngày 11/7/2022 là 8.355.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương và đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ những nhận định trên, xét bị cáo có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng vì thế xét không cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình, xã hội cũng đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với các hành vi khác:

Đối với Phạm Văn M có hành vi đánh bạc, do số tiền M sử dụng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, bản thân M chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc nên Công an thị xã Duy Tiên đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là đúng quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị M1 khai báo, ngoài những số lô, đề bị cáo ghi cho Phạm Văn M thì bị cáo còn ghi cho nhiều khách khác. Tuy nhiên, bị cáo không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của nhưng người này. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý đối với những người đến ghi mua số lô, đề của M1.

Ngoài ra, bị cáo Phạm Thị M1 còn khai báo: Bản thân ghi lô, đề cho khách từ khoảng đầu năm 2022 và ôm lại, không chuyển bảng lô, đề cho ai. Các cáp đề và tổng bảng liên quan đến việc ghi lô, đề của những ngày trước đó, sau khi thanh toán thắng – thua cho khách, bị cáo đã tiêu hủy hết nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên không có căn cứ để xử lý đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 12.225.000 đồng thu giữ của bị cáo, trong đó có 7.705.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu sung quỹ Nhà nước. Còn lại số tiền 4.520.000 đồng là tài sản hợp pháp của bị cáo M1, không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với số tiền 650.000đ do anh M nợ Phạm Thị M1 khi ghi mua lô, đề ngày 11/7/2022, tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã tịch thu sung quỹ nhà nước và anh M đã nộp vào ngân sách nhà nước ngày 24/8/2022 nên không đặt ra giải quyết.

Đối với 01chiếc bút bi đã cũ nhãn hiệu Matiz là công cụ bị cáo M1 thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 tờ tổng bảng bằng giấy A4, bên trên có ghi các số và chữ; 01 tờ cáp có KT(10x7)cm, bên trên có ghi các số và chữ là những vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội được chuyển theo hồ sơ vụ án cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự khác được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị M1 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị M1 12 (M1 hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/10/2022).

Giao bị cáo Phạm Thị M1 cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam tiếp tục giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu sung quỹ nhà nước: Số tiền 7.705.000 đồng.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc bút bi đã cũ nhãn hiệu Matiz.

+ Trả lại cho bị cáo Phạm Thị M1: Số tiền 4.520.000 đồng.

(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã Duy Tiên và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 05/10/2022 riêng số tiền đã được chuyển vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Phạm Thị M1 phải chịu 200.000 đồng.

Báo cho bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ