vanban.org

Bản án 96/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân, chấp nhận cho chị Huỳnh Thị L (Huỳnh Thị Liểu) ly hôn anh Đỗ Văn Đ (Đổ Văn Đ).

Về con chung: Giao con là Đỗ Trọng Ng (giới tính nam), sinh ngày 31/7/2008 và Đổ Như Q (giới tính nữ), sinh ngày 26/9/2010 cho chị Huỳnh Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đỗ Văn Đ không cấp dưỡng nuôi con. Anh Đỗ Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân, chấp nhận cho chị Huỳnh Thị L (Huỳnh Thị Liểu) ly hôn anh Đỗ Văn Đ (Đổ Văn Đ).
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29-7-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Vẹn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Sơn

Ông Nguyễn Minh Trọn

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Tính - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 239/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị L (Huỳnh Thị L1), sinh năm 1986 (xin vắng mặt).

Cư trú tại: Ấp T, xã H, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Đỗ Văn Đ (Đổ Văn Đ1), sinh năm 1983 (vắng mặt).

Cư trú tại: Ấp T, xã H, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21/02/2022 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, chị Huỳnh Thị L trình bày: Năm 2007 chị và anh Đỗ Văn Đ chung sống với nhau như vợ chồng, ngày 02/4/2007 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, do không hòa hợp và không có sự quan tâm, chia sẻ trong cuộc sống. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Đỗ Văn Đ.

Về con chung, có 02 người con tên là Đỗ Trọng Ng (giới tính nam), sinh ngày 31/7/2008 và Đổ Như Q (giới tính nữ), sinh ngày 26/9/2010, hiện do chị đang nuôi dưỡng. Nay chị yêu cầu giao con cho chị tiếp tục nuôi dưỡng và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Đỗ Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung khởi kiện của chị Huỳnh Thị L.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Huỳnh Thị L ly hôn anh Đỗ Văn Đ. Về con chung, giao con là Đỗ Trọng Ng (giới tính nam), sinh ngày 31/7/2008 và Đổ Như Q (giới tính nữ), sinh ngày 26/9/2010 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, anh Đ không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Huỳnh Thị L khởi kiện anh Đỗ Văn Đ yêu cầu ly hôn, yêu cầu nuôi con chung nên đây là vụ án hôn nhân và gia đình, quan hệ tranh chấp về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, bị đơn anh Đỗ Văn Đ cư trú tại ấp T, xã H, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Huỳnh Thị L có yêu cầu xin vắng mặt. Anh Đỗ Văn Đ được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Đỗ Văn Đ và chị Huỳnh Thị L là đúng theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân, chị Huỳnh Thị L và anh Đỗ Văn Đ kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên quan hệ hôn nhân giữa chị Huỳnh Thị L và anh Đỗ Văn Đ được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Chị Huỳnh Thị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có sự sẻ chia trong cuộc sống vì vậy yêu cầu ly hôn anh Đ. Xét thấy, anh Đỗ Văn Đ đã được triệu tập nhiều lần để tham gia hòa giải nhưng đều vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị L, cho thấy anh Đ không muốn hòa giải và hàn gắn với chị L. Như vậy, quan hệ hôn nhân của chị Huỳnh Thị L và anh Đỗ Văn Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Từ đó, chấp nhận cho chị Huỳnh Thị L ly hôn anh Đỗ Văn Đ là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung, chị Huỳnh Thị L yêu cầu tiếp tục nuôi hai người con chung là Đỗ Trọng Ng, sinh ngày 31/7/2008 và Đổ Như Q, sinh ngày 26/9/2010, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Anh Đ đã được thông báo về yêu cầu khởi kiện, yêu cầu nuôi con của chị L nhưng không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con của chị L. Xét thấy, con chung đang sống với chị L và có nguyện vọng tiếp tục chung sống với chị L, từ khi không còn chung sống như vợ chồng đến nay thì con chung đều sống với chị L. Vì vậy, để ổn định tâm lý, môi trường sống, học tập và sự phát triển bình thường của con chung, phù hợp với nguyện vọng của con nên giao hai người con cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng là có căn cứ. Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

[5] Các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra xem xét.

[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân là phù hợp nên có căn cứ chấp nhận.

[7] Về án phí: Chị Huỳnh Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, chị L đã nộp tạm ứng xong nay chuyển thu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

1. Về quan hệ hôn nhân, chấp nhận cho chị Huỳnh Thị L (Huỳnh Thị Liểu) ly hôn anh Đỗ Văn Đ (Đổ Văn Đ).

2. Về con chung: Giao con là Đỗ Trọng Ng (giới tính nam), sinh ngày 31/7/2008 và Đổ Như Q (giới tính nữ), sinh ngày 26/9/2010 cho chị Huỳnh Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đỗ Văn Đ không cấp dưỡng nuôi con.

Anh Đỗ Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Huỳnh Thị L chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0017609 ngày 21 tháng 02 năm 2022, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, như vậy chị Huỳnh Thị L không còn phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ