- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty X - Diệp Ngọc S"
- Tòa quyết gì? Buộc ông Diệp Ngọc S trả cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ X số tiền 34.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 96/2022/DS-ST Ngày: 21 - 9 - 2022 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thanh Hảo;
2. Ông Huỳnh Văn Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố K, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố K xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 161/2022/TLST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2022/QĐXXST-DS ngày 16/8/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 108/2022/QĐXXST-DS ngày 05/9/2022 giữa:
- Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH Mua Bán Nợ X;
Địa chỉ: phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Hữu Ý, sinh năm 1996, nơi cư trú: phường P, Quận C, thành phố Cần Thơ; có mặt.
- Bị đơn: Ông Diệp Ngọc S, sinh năm 1960, địa chỉ: tổ 6, khóm Mỹ Chánh, phường Vĩnh Mỹ, thành phố K, tỉnh An Giang; vắng mặt lần 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Công ty TNHH Mua Bán Nợ X có ông Trần Hữu Ý đại diện trình bày:
Ngày 04/5/2018, ông S có ký kết hợp đồng tín dụng số 20180508 - 0003199 với Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC (viết tắt là Công ty tài chính) vay số tiền 21.100.000 đồng; lãi suất 5%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận ông S có trách nhiệm thanh toán số tiền 36.487.302 đồng gồm gốc và lãi; trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng; 23 tháng đầu, trả mỗi tháng 1.529.012 đồng, tháng cuối cùng trả 1.320.026 đồng. Bắt đầu trả từ ngày 05/6/2018. Thực hiện hợp đồng, khách hàng đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và có thanh toán cho Công ty tài chính được 01 lần, tổng số tiền đã trả 1.542.000 đồng. Kể từ ngày 15/6/2018 đến nay, ông S không thanh toán cho Công ty tài chính mặc dù đã được nhắc nhở nhiều lần. Ngày 29/03/2021, khoản nợ của ông S đã được Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (nay là Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC) chuyển nhượng cho Công ty TNHH Công ty TNHH Mua Bán Nợ X theo Hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-GALAXY-21-0003. Do ông S trễ hạn thanh toán nên Công ty TNHH Mua Bán Nợ X khởi kiện yêu cầu ông S trả toàn bộ nợ gốc và lãi tổng số tiền 34.945.302 đồng gồm vốn 20.557.759 đồng, lãi 14.387.543 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tống đạt văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Tòa án tiến hành xác minh thu thập chứng cứ tại Ban khóm Mỹ Chánh, phường Vĩnh Mỹ, thành phố K cho biết ông Diệp Ngọc S, sinh năm 1960, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 6, khóm Mỹ Chánh, phường Vĩnh Mỹ, thành phố K, tỉnh An Giang, cách đây 01 tháng ông S đi Phú Quốc làm ăn. Việc ông S vay tiền thì Ban khóm không biết. Tòa án tiến hành hòa giải giữa các đương sự nhưng không thành do bị đơn vắng mặt. Tại phiên tòa,
- Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu cầu ông S trả toàn bộ nợ gốc và lãi tổng số tiền 34.945.302 đồng gồm vốn 20.557.759 đồng, lãi 14.387.543 đồng cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ X.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48, Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án. Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng việc vay nợ của các bên trên cơ sở tự nguyện, có hợp đồng, phù hợp quy định pháp luật, trong thời gian thực hiện hợp đồng bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó Công ty TNHH Mua Bán Nợ X khởi kiện yêu cầu trả nợ là có căn cứ chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 365, Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn có trách nhiệm trả số tiền gồm gốc 34.945.302 đồng cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ X.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự với bị đơn là ông Diệp Ngọc S có nơi cư trú tại thành phố K, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố K theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về xác lập hợp đồng vay tài sản:
Xét hợp đồng tín dụng số 20180508 - 0003199 ngày 04/5/2018 giữa ông S với Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung của hợp đồng không trái quy định của pháp luật. Do đó, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.
Về vốn và lãi vay:
Căn cứ hợp đồng tín dụng số 20180508 - 0003199 ngày 04/5/2018; Bảng kế hoạch trả nợ và Lịch sử thanh toán thì Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC có cho ông S vay số tiền 21.100.000 đồng; lãi suất 5%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận ông S có trách nhiệm thanh toán số tiền 36.487.302 đồng gồm gốc và lãi; trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng; 23 tháng đầu, trả mỗi tháng 1.529.012 đồng, tháng cuối cùng trả 1.320.026 đồng. Bắt đầu trả từ ngày 05/6/2018. Ông S đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và có thanh toán cho Công ty tài chính được 01 lần, số tiền đã trả 1.542.000 đồng, kể từ ngày 15/6/2018 đến nay ông S không thực hiện rả nợ. Quá trình thực hiện Hợp đồng ông S đã không thực hiện đúng thời hạn trả nợ đã ký kết là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay được quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2015. Khoản nợ của ông S đã được Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (nay là Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC) chuyển nhượng cho Công ty TNHH Công ty TNHH Mua Bán Nợ X theo Hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-GALAXY-21-0003 ngày 30/3/2021 là phù hợp với quy định tại Điều 365 và Điều 450 của Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó Công ty TNHH Mua Bán Nợ X khởi kiện để yêu cầu ông S trả tổng số tiền 34.945.302 đồng gồm vốn 20.557.759 đồng, lãi 14.387.543 đồng là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 365 và Điều 450 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Buộc bà Phan Thị Hà trả cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ X số tiền 34.945.302 đồng gồm vốn 20.557.759 đồng, lãi 14.387.543 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. [5] Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.747.000 (một triệu, bảy trăm, bốn mươi bảy nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 365 và Điều 450 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Mua Bán Nợ X.
Buộc ông Diệp Ngọc S trả cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ X số tiền 34.945.302 đồng gồm vốn 20.557.759 đồng, lãi 14.387.543 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty TNHH Mua Bán Nợ X không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả số tiền 874.000 (tám trăm, bảy mươi bốn nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0002320 ngày 11/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc cho Công ty TNHH Mua Bán
Nợ X.
Ông Diệp Ngọc S phải chịu 1.747.000 (một triệu, bảy trăm, bốn mươi bảy nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát TPCĐ (2); - Tòa án tỉnh An Giang (1); - Thi hành án DS TPCĐ (1); - Lưu hồ sơ (1), - Lưu văn phòng (1). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Phương |