- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Tranh chấp về thừa kế tài sản"
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố t ng dân s; Điều 148 Bộ luật Tố t ng dân s
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2022/DS-PT Ngày 11-5-2022 V/v yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng (di chúc) vô hiệu, tranh chấp tài sản chung, tranh chấp di sản thừa kế |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà:
Ông Ngô Văn Minh
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Thành Trung
Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- i di n i n i m t nh n d n t nh nh ương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Lợi – i m sát viên.
Trong các ngày 06 và 11 tháng 5 năm 2022, tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, t
phúc thẩm công khai v án dân s th lý số 10/2020/TLPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2020 về việc “yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng (di chúc) vô hiệu, tranh chấp tài sản chung, tranh chấp di sản thừa kế”.
Do Bản án dân s sơ thẩm số 50/2019/DS-ST ngày 31/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố T bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra t phúc thẩm số 45/2020/QĐ-PT ngày 04/5/2020, Thông báo m lại phiên tòa số 04/2022/TB-TA ngày 14/3/2022, giữa các đương s :
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1963; địa chỉ: Số 17/54, đường L, khu phố 7, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trương Dương D, sinh năm 1959; địa chỉ: Số 468/26/19A đường N, Phường 3, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh – là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 03/9/2019), có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1971; địa chỉ: Số 17/54, đường L, khu phố 7, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Trần Thị Hồng P, sinh năm 1992, địa chỉ: Số 467/9 Đại lộ B, khu phố 1, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương – Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 11/5/2018), có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1971; địa chỉ: Số 17/54, đường L, khu phố 7, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu vắng mặt.
3.2. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1953; địa chỉ: Số 1523, đường Đại lộ B, tổ 12, khu phố 2, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bà B: Ông Lê Hữu T, sinh năm 1981; hộ khẩu thường trú: Xóm 5, ã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, địa chỉ nơi cư trú: Số 45N/6, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
3.3. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1959; địa chỉ: Số 22/66, đường L, khu phố 7, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
3.4. Văn phòng Công chứng S; địa chỉ: Số 145, đường Đại lộ B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương - Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Thái G – Trư ng văn phòng, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3.5. Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1977; địa chỉ: Số 378, đường L, khu phố 6, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3.6. Ông Nguyễn Thành D, sinh năm 1979; địa chỉ: Số 22/64, tổ 64, khu phố 6, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của ông D: Ông Lê Hữu T1, sinh năm 1983; hộ khẩu thường trú: Xóm 5, ã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, địa chỉ nơi cư trú: Số 45N/6, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
3.7. Bà Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1981; địa chỉ: Xã T, thị ã B, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3.8. Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1983; địa chỉ: Số 22/64, tổ 64, khu phố 6, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3.9. Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1986; địa chỉ: Số 22/64, tổ 64, khu phố 6, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3.10. Ông Trịnh Văn Q, sinh năm 1957, địa chỉ: Số 120/54, tổ 54, khu phố 7, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3.11. Anh Trịnh Hữu T, sinh năm 1980; địa chỉ: Số 932, đường N, khu phố 1, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3.12. Anh Trịnh Quốc H, sinh năm 1982; địa chỉ: Số 934, đường N, khu phố 1, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3.13. Anh Trịnh Quốc T, sinh năm 1991; địa chỉ: Số 120/54, tổ 54, khu phố 7, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu vắng mặt.
3.14. Chị Trịnh Hồng N, sinh năm 1994; địa chỉ: Số 120/54, tổ 54, khu phố 7, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt khi t , vắng mặt khi tuyên án.
3.15. C Huỳnh Thị L, sinh năm 1942 (chết ngày 24/12/2017)
Người kế thừa quyền và nghĩa v tố t ng của c Huỳnh Thị Lừng: Bà Trần Thị N, sinh năm 1962; địa chỉ: C327 đường B, phường B, thị ã T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu vắng mặt.
3.16. Bà Lê Thị im S, sinh năm 1973, địa chỉ: Số 17/54, đường L, khu phố 7, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
3.17. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1957, địa chỉ: Số 378 L, hu phố 6, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
4. Người làm chứng:
4.1. Bà Lê Ngọc H, sinh năm 1971; địa chỉ: Số 1529 (số cũ 1067) đường L, tổ 12, khu phố 2, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu vắng mặt.
4.2. Ông Dương Văn H, sinh năm 1965; địa chỉ: 44/54, đường L, tổ 54, khu phố 7, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Người háng cáo: Nguyên đơn là ông Nguyễn Tấn L và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị H, bà Trịnh Hồng N, ông Nguyễn Thành D.
NỘI D NG V ÁN:
- Quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Tấn L và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
C Nguyễn Văn T (chết ngày 25/4/2016) và c Đặng Thị Đ (chết năm 1966). Hai c có 05 người con chung gồm các ông, bà:
+ Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1963;
+ Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1955 (chết năm 2011), có 05 người con gồm: Ông Nguyễn Minh T2, ông Nguyễn Thành D, bà Nguyễn Thị Thu N, bà Nguyễn Thị Ngọc T và ông Nguyễn Văn P1.
+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1957 (chết 2008), có 04 người con gồm: Ông Trịnh Hữu T, ông Trịnh Quốc H, ông Trịnh Quốc T, bà Trịnh Hồng N.
+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1959;
+ Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1963.
Sau khi c Đ chết, c T sống cùng c Đặng Thị Đ1, sinh năm 1933, chết năm 1978, có 01 người con chung là ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1971. C Đ1 chết, c T sống cùng với c Nguyễn Thị L, sinh năm 1942, chết ngày 24/12/2017, có 01 người con chung là bà Trần Thị N, sinh năm 1962.
Di sản c T đ lại gồm quyền s d ng đất diện tích còn lại sau khi đã chuy n nhượng là 5.009m2 trong đó có 150m2 đất nông thôn và 4.859m2 đất trồng cây lâu năm thuộc th a đất số 215, tờ bản đồ số 13 theo Giấy chứng nhận quyền s d ng đất số T345493, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 02794.QSDĐ/H do UBND thị ã T (nay là thành phố T) cấp cho c Nguyễn Văn T ngày 15/11/2001, diện tích đo đạc th c tế là 5.169,4m2 và tài sản gắn liền với đất có căn nhà cấp 4 diện tích 150m2, kết cấu mái ngói, tường ngói ây tô và cây trồng lâu năm.
Đối với chứng cứ do bị đơn cung cấp là di chúc ngày 26/8/2013, người đ lại di chúc là c Nguyễn Văn T; nội dung di chúc: C T đ lại toàn bộ tài sản là quyền s d ng đất 5.009m2 cho ông Nguyễn Văn P. Di chúc này không có giá trị pháp lý, b i vì c T bị bệnh do di chứng tai biến nhồi máu não, ơ vữa động mạch, cao huyết áp vô căn (nguyên phát) và ung thư phổi, ho ra máu nhiều, nên gia đình ông L đưa c T đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương cấp cứu. C T nằm điều trị bệnh Phòng cấp cứu trong 03 ngày là 26 - 27 - 28/8/2013. Ngày 29/08/2013, c T được chuy n uống hoa nội tổng quát, nhưng bệnh không thuyên giảm. Theo đề nghị của gia đình, ngày 29/08/2013, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương đã làm thủ t c và chuy n viện, đưa c T uống Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh đ điều trị, trong khoảng 01 tuần thì được uất viện. Như vậy, từ ngày 26/08/2013 đến khoảng ngày 05/09/2013, c T phải nhập viện cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương và Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh. Do vậy, Giấy chứng nhận sức khỏe do Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương cấp ngày 28/08/2013 dùng vào việc c T lập di chúc là có bi u hiện mờ ám, không đúng s thật khách quan. Vì trong thời gian này, sức khỏe c T rất yếu, không đủ minh mẫn, sáng suốt. Ngoài ra, Giấy chứng nhận sức khỏe số 697 ngày 29/9/2013 do Văn phòng công chứng S cung cấp cho Tòa án có việc s a chữa (ngày 29/9/2013 thành ngày 28/8/2013). C T không ký tên trong giấy chứng nhận sức khỏe và bệnh viện không có kết luận c T đủ sức khỏe đ lập di chúc hay không; số chứng minh nhân dân của c T trên giấy chứng nhận sức khỏe ghi sai so với th c tế (số chứng minh của c T là 280046388, nhưng số chứng minh ghi trong di chúc là 280046386); các m c khám sức khỏe đa phần do bác sĩ Dương Hương G khám và kết luận, riêng m c khám về mắt thì do bác sĩ Đặng im C khám, tai mũi họng do bác sĩ Nguyễn Văn C khám và răng hàm mặt do bác sĩ Bùi Thị Thanh C khám. Ông L cho rằng Giấy chứng nhận sức khỏe nêu trên không hợp pháp. Do vậy, việc Văn phòng Công chứng S công chứng di chúc do c T lập ngày 29/08/2013 là không đúng s thật khách quan, trái quy định của pháp luật.
Mặt khác, nguyên đơn là thành viên trong hộ gia đình c T; Giấy chứng nhận quyền s d ng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận 02794 QSDĐ/H cấp ngày 15/11/2004 do UBND thị ã T (nay là thành phố T) cấp cho “Hộ ông Nguyễn Văn T”. Hộ c T gồm có 3 thành viên là c T, ông Nguyễn Tấn L (nguyên đơn) và ông Nguyễn Văn P (bị đơn); tài sản gắn liền với đất có 01 căn nhà cấp 4, kết cấu: mái ngói, tường gạch ây tô, có diện tích 150m2, các công trình ph và toàn bộ cây trồng lâu năm do c T tạo lập.
Ngày 05/08/2013, Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T đã chỉnh lý tên người s d ng đất từ hộ c T sang tên cá nhân c T là không đúng quy định tại khoản 1, Điều 25 Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ. Vì vậy, nguyên đơn kh i kiện yêu cầu:
1. Tuyên bố văn bản công chứng của Văn phòng Công chứng S có số công chứng 007468 vô hiệu;
2. Xác định quyền s d ng đất của nguyên đơn trong khối tài sản chung của hộ gia đình c T là 1/3 quyền s d ng đất chung của cả hộ, tương ứng 1.669,6m2 theo Giấy chứng nhận quyền s d ng đất số có số vào sổ 02794 QSDĐ/H.
3. Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với di sản thừa kế của c T là 1.669,6m2 (5.009m2 : 3) thành 06 kỷ phần, kỷ phần nguyên đơn được hư ng là 333,92m2 (1.669,6 m2 : 6); 1/6 trị giá căn nhà cấp 4 gắn liền với đất, kết cấu: mái ngói, tường gạch ây tô, diện tích 150m2; 1/6 giá trị cây trồng trên tổng diện tích đất 5.009m2 và trị giá 01 e máy hiệu Dream.
Tại phiên tòa sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu kh i kiện đối với phần diện tích 300m2 (đo đạc th c tế 303,2m2) do gia đình ông L đang . Do diện tích đất này khi c T còn sống đã làm văn bản tặng cho ông L. Nguyên đơn chỉ yêu cầu giải quyết các yêu cầu như sau:
1. Tuyên bố văn bản công chứng (Di chúc) do Văn phòng Công chứng S công chứng là vô hiệu;
2. Xác định quyền s d ng đất của nguyên đơn trong khối tài sản chung của hộ là 1/3 quyền s d ng đất chung (4.709m2) tương ứng 1.569,6m2 theo Giấy chứng nhận quyền s d ng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận 02794 QSDĐ/H ngày 15/11/2004.
3. Phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật đối với di sản thừa kế do c T chết đ lại gồm: Diện tích 1.569,6m2 (4.709m2 : 3) và 01 căn nhà cấp 4 gắn liền với đất, kết cấu: mái ngói, tường gạch ây tô, diện tích 150m2 và các tài sản là cây trồng trên đất thành 06 kỷ phần gồm các ông, bà: Nguyễn Tấn L, Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị L (do các con thừa kế thế vị), ông Nguyễn Văn T (do các con thừa kế thế vị), ông Nguyễn Văn P, mỗi kỷ phần với diện tích 261,6m2; 1/6 giá trị căn nhà cấp 4 kết cấu: mái ngói, tường gạch ây tô, diện tích 150m2; 1/6 giá trị cây trồng trên diện tích đất 5.009m2, e máy hiệu Dream.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Văn P là bà Trần Thị Hồng P trình bày:
Thống nhất quan hệ huyết thống như nguyên đơn trình bày. Đối với ý kiến và lý do bên nguyên đơn cho rằng c T lập di chúc sai s thật là không đúng. S thật là c T có tiền s bệnh lâu năm, nên được ph p điều trị ngoại trú và phải đi tái khám định kỳ tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Tuy nhiên, do c T có mua bảo hi m y tế, nên phải khám theo tuyến. Do vậy, mỗi lần đi tái khám, c T đều phải in giấy chuy n viện của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương đến Bệnh viện Chợ Rẫy. Vào các ngày 26/8/2013, 27/8/2013 và ngày 28/8/2013 c T vẫn khỏe mạnh chứ không phải nằm viện như bên nguyên đơn trình bày. Ngày 29/8/2013, cũng như những lần trước, c T đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương tái khám và in giấy chuy n viện đ đi tái khám tại Bệnh viện Chợ Rẫy, không phải in chuy n viện do phải cấp cứu. C T lập di chúc tại Văn phòng Công chứng S, có s chứng kiến của công chứng viên và 02 người làm chứng là bà Lê Ngọc Hân và ông Nguyễn Tấn Phong, tại thời đi m lập di chúc, sức khỏe của c T bình thường, hoàn toàn minh mẫn, không có s khuất tất nào.
Nguồn gốc đất tranh chấp là của c T, diện tích 8.238m2. C T đã tặng cho các con gồm ông L, bà B, bà Luyên, bà H và ông Thành mỗi người một phần đ ổn định cuộc sống riêng. Còn lại diện tích 5.009m2 do c T, c Huỳnh Thị L (là vợ thứ 3 của c T nhưng không đăng ký kết hôn) và vợ chồng ông P tr c tiếp quản lý, s d ng từ trước đến nay.
Việc bên nguyên đơn cho rằng đất cấp cho hộ c T, yêu cầu ác định quyền s d ng đất của nguyên đơn trong tổng diện tích cấp cho hộ; yêu cầu chia thừa kế di sản của c T là không có căn cứ. Vì trước đây khi được cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất lần đầu thì người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền s d ng đất là cá nhân c T, không phải “Hộ”; sau khi c T th c hiện thủ t c sang tên tách th a cho các con thì bị s a đổi thành “Hộ”. Tuy nhiên, sau đó c T đã đính chính lại việc này.
Nguyên đơn và các bà B, bà L, bà H và ông T sau khi được c T chia đất đều ây d ng nhà riêng, chỉ còn bị đơn vẫn sống cùng với c T và là người chăm lo tuổi già cho c T. hi bị đơn (ông P) kết hôn với bà S thì vợ chồng bị đơn tiếp t c quản lý, s d ng đất và chăm lo cuộc sống cho c T và khi c chết thì lo việc tang.
Nguyên đơn làm ăn thất bại, nên phải bán phần đất được chia đ trả nợ. Vì vậy, c T phải tiếp t c làm giấy tặng cho nguyên đơn thêm 100.000.000 đồng và 300m2 đất đ địa phương ây nhà tình thương cho gia đình nguyên đơn. Bị đơn đồng ý giao cho nguyên đơn diện tích 300m2 (đo đạc th c tế 303,2m2) đất gia đình nguyên đơn đang theo hiện trạng.
- Người ế thừa quyền và nghĩa vụ của cụ Huỳnh Thị L là bà Trần Thị N trình bày:
C Huỳnh Thị L và c T chung sống với nhau từ năm 1976, không đăng ký kết hôn. Tài sản chung của c L và c T như thế nào thì bà N không rõ. Vì khi c L về chung sống với c T thì c T đã có th a đất nêu trên.
Tại Tòa án cấp sơ thẩm, c L có đơn yêu cầu độc lập chia tài sản chung của c và c T là diện tích đất 5.009m2; chia thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản của c T. Ngày 24/12/2017 c Lg chết. Vì vậy, bà N đã có đơn in rút toàn bộ yêu cầu độc lập của c L và có ý kiến không tranh chấp gì đối với di sản mà các bên đương s đang tranh chấp trong v án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Văn phòng Công chứng S trình bày:
Di chúc được công chứng số 007468, quy n số 08/TPCC-SCC/HĐGD do Công chứng viên Văn phòng Công chứng S chứng nhận ngày 29/8/2013 do c T lập và được th c hiện công chứng tại tr s Văn phòng Công chứng S. Tại thời đi m lập di chúc, c T hoàn toàn t nguyện, có đầy đủ năng l c hành vi dân s . Do c T bị run tay, không viết được, nên đã đi m chỉ vào di chúc trước mặt công chứng viên và người làm chứng là bà Lê Ngọc H và ông Nguyễn Tấn P. Tại thời đi m công chứng, người lập di chúc hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt, t nguyện, không bị lừa dối, không bị p buộc.
Tại thời đi m công chứng, Văn phòng Công chứng S không nhận được bất kỳ văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền đề nghị ngăn chặn hoặc tạm đình chỉ th c hiện các quyền của người s d ng đất đối với th a đất số 215, tờ bản đồ số 13 tại phường T, thành phố T theo Giấy chứng nhận quyền s d ng đất có số vào sổ 02794 QSDĐ/H do UBND thị ã T (nay là thành phố T) cấp ngày 15/11/2004, đăng ký biến động ngày 13/3/2004 và ngày 05/8/2013. Do đó, quyền s d ng đất nêu trên đủ điều kiện đ lập di chúc theo quy định của pháp luật. Vì vậy, việc công chứng viên của Văn phòng Công chứng S th c hiện công chứng di chúc nêu trên là đúng trình t , thủ t c theo quy định của pháp luật.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị D và những người ế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn T là ông Nguyễn Minh T1, ông Nguyễn Thành D, bà Nguyễn Thị Thu N, bà Nguyễn Thị Ngọc T, ông Nguyễn Văn P1 và người ế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị L là bà Trịnh Hồng N: Thống nhất lời trình bày và yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn.
- Những người ế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị L gồm: ông Trịnh Văn Q, ông Trịnh Hữu T, ông Trịnh Quốc H, ông Trịnh Quốc T: Thống nhất lời trình bày của bên bị đơn, ác định di chúc là ý chí của c T, nên không chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Kim S trình bày thống nhất với lời trình bày của bên bị đơn và trình bày thêm như sau: Bà S kết hôn với ông P vào năm 1995. Sau khi cưới, bà S về làm dâu nhà c T và sinh sống tại đây từ đó đến nay. Trước đây c T có 03 th a đất. Tuy nhiên, c T đã tặng cho các con gồm Nguyễn Tấn L, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T mỗi người một phần. hi bà S về làm dâu thì c T đã 60 tuổi, nên toàn bộ việc chăm sóc vườn, s a lại nhà... đều do vợ chồng bà th c hiện. Khi c T bị bệnh và chết, cũng chỉ có vợ chồng bà đứng ra lo liệu toàn bộ. Phần ông L và các anh chị khác đều đã có gia đình và riêng. Việc c T lập di chúc giao toàn bộ khu đất cho ông P là hoàn toàn t nguyện, gia đình bà không ai có hành vi p buộc c T làm việc này. Vì vậy, bà S không chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn.
Tại Bản án dân s số 50/2019/DS-ST ngày 31/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố T, tuyên :
1. Đình chỉ t một phần yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn Nguyễn Tấn L đối với bị đơn Nguyễn Văn P về việc yêu cầu phân chia tài sản chung, di sản thừa kế đối với phần đất có diện tích 300m2.
2. Ghi nhận s t nguyện của bị đơn về việc ông Nguyễn Tấn L, bà Nguyễn Ngọc T được quyền quản lý s d ng phần đất có diện tích 300m2, thuộc phần th a đất số 215, tờ bản đồ số 13 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền s d ng đất có số vào sổ là 02794 QSDĐ/H do UBND thị ã T (nay là thành phố T) cấp ngày 15/11/2004, chỉnh lý ngày 05/8/2013 mang tên Nguyễn Văn T.
(Khu đất có sơ đồ bản vẽ èm theo).
3. hông chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của ông Nguyễn Tấn L đối với bị đơn Nguyễn Văn P về việc yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng (di chúc) vô hiệu, tranh chấp tài sản chung, tranh chấp di sản thừa kế.
4. Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của ông Nguyễn Tấn L đối với ông Nguyễn Văn P về việc tranh chấp di sản thừa kế đối với căn nhà cấp 4 có diện tích 142,3m2.
Chia di sản thừa kế là căn nhà trị giá 167.202.500 đồng cho các hàng thừa kế và thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn T gồm 06 chi, tương đương mỗi chi nhận được tài sản trị giá 27.867.000 đồng như sau:
Ông Nguyễn Văn P được quyền quản lý, s d ng, s hữu căn nhà cấp 4 có diện tích 142,3m2, kết cấu móng, cột, tường ây gạch, nền gạch hoa, mái lợp tole + ngói.
Ông Nguyễn Văn P có trách nhiệm thanh toán cho các kỷ phần còn lại gồm ông Nguyễn Tấn L, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn T (do vợ và các con ông T nhận thay), bà Nguyễn Thị L (do chồng và các con bà L nhận thay) mỗi người với số tiền 27.867.000 đồng (hai mươi bảy triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn đồng)
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí đo đạc, định giá, giám định, trách nhiệm thi hành án và quyền kháng cáo của đương s .
Sau khi t sơ thẩm, ngày 03 tháng 08 năm 2019 nguyên đơn là ông Nguyễn Tấn L và người có quyền lợi nghĩa v liên quan là bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị H, bà Trịnh Hồng N, ông Nguyễn Thành D có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu kh i kiện và yêu cầu kháng cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị H, bà Trịnh Hồng N, ông Nguyễn Thành D vẫn giữ yêu cầu kháng cáo; các đương s không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết v án.
- Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (ông Trương Dương D) trình bày tại phiên tòa phúc thẩm:
Sau khi có bản án sơ thẩm, nguyên đơn đã kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm vì Tòa án cấp sơ thẩm t không khách quan, vi phạm pháp luật, như sau:
Thứ nhất, về việc chuy n tài sản hộ gia đình sang cá nhân: Nguyên đơn thừa nhận nguồn gốc tài sản là hư ng thừa kế, nhưng tài sản đã là của hộ gia đình, nên thủ t c chuy n tài sản từ hộ gia đình sang cho cá nhân là theo thủ t c pháp luật quy định. Tuy nhiên, thủ t c chuy n tài sản từ hộ c T sang c T là sai, Quyết định số 222 của Văn phòng đăng ký đất đai có trong hồ sơ v án (bút l c 411) nhưng cấp sơ thẩm không em t, chỉ em t Công văn 143/TNMT ngày 07/02/2018 của Phòng Tài nguyên và Môi trường. Ông đã hỏi vấn đề này đến Phòng Tài nguyên và Môi trường nhưng chưa nhận được văn bản trả lời. S việc ảy ra vào năm 2013 nhưng cấp sơ thẩm lại áp d ng văn bản của năm 2017 đ giải quyết. Công văn 143/TNMT chỉ là hợp pháp hóa thủ t c đ Tòa án sơ thẩm nhận định trái pháp luật. Đồng thời khi chuy n tài sản từ hộ sang cá nhân lại không đo vẽ nên hiện trạng thay đổi.
Thứ hai, về hồ sơ khám sức khỏe: Luật không quy định bắt buộc khám sức khỏe, chỉ quy định sáng suốt khi lập di chúc. Nhưng nếu đặt ra vấn đề khám sức khỏe thì phải chịu quy định của Bộ Y tế về khám sức khỏe theo Thông tư số 14, có hiệu l c tháng 7/2013. Thông tư quy định phải có đánh giá từng m c, nhưng giấy khám sức khỏe của c T ghi “bt” có nghĩa là gì? Bà Đặng Thu H không dám ghi nội dung minh mẫn sáng suốt. Nhưng trong Công văn của Bệnh viện 512 trả lời “có minh mẫn”. Hai giấy khám sức khỏe đều không có chữ ký của c T, vậy có phải c T khám hay khám cho c T hay không. Trong hồ sơ bà Lùng vừa chết, cũng chính bà Đặng Thu H là người khám sức khỏe, lại ghi rõ kết luận. Giấy khám sức khỏe của c T có giấy ghi ngày 28, có giấy do ông D đang giữ ghi là “khỏe mạnh”. hông có giấy tờ nào th hiện c T muốn khám sức khỏe, có yêu cầu khám sức khỏe và có kết luận rõ ràng đ c lập di chúc.
Thứ ba, tài liệu của nguyên đơn yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu, phần nhận định của cấp sơ thẩm không đem ra em t. Một bộ hồ sơ thì do người yêu cầu lập, một bộ hồ sơ do văn phòng công chứng đưa cho người yêu cầu. Theo Luật Công chứng năm 2006, Điều 48 quy định người yêu cầu công chứng di chúc thì không được ủy quyền cho ai. Tại khoản 2 ghi nếu có bệnh khác không làm chủ được hành vi (như run tay), công chứng viên đưa vào trong lời chứng, nhưng lời chứng bị chi phối b i Thông tư liên tịch 04 và 03 của Bộ Tư pháp, có mẫu lời chứng, không có lời nào đ ghi người yêu cầu bị run tay. Công chứng viên không có chuyên môn thì không th ghi nội dung chứng này. Công chứng viên làm như vậy có tôn trọng pháp luật hay không? Về nội dung di chúc: Năm 2012, c T đã cho 300m2 cho bà Thảo, nội dung di chúc 5.009m2 là căn cứ vào đâu, tài sản trên đất cũng không ghi vào. Theo khoản 1 điều 2 Luật Công chứng thì phải sát th c, nhưng văn phòng công chứng vi phạm, số trang di chúc cũng không đánh, dấu lăn tay thì không ác định rõ ngón tay nào trái, ngón tay nào phải. Văn bản công chứng là sai hoàn toàn. Nghị định 60/2009/NĐ-CP hướng dẫn về phạt hành vi vi phạm. Nguyên đơn đề nghị Tòa án áp d ng Điều 2, 48, 53, của Luật Công chứng 2006; áp d ng Điều 652 Bộ luật Dân s về di chúc không hợp pháp; Điều luật về hành vi giả mạo làm sai lệch hồ sơ di chúc không em t cho hư ng di sản theo pháp luật. Bà S là vợ ông P mà bà S ch c T đi công chứng di chúc, bà S ký vào các giấy công chứng đ ông P được hư ng di sản là có lợi cho ông P, bà S; gây bất lợi cho đương s khác nên đề nghị em t không cho hư ng di sản.
Đề nghị Hội đồng t tuyên di chúc vô hiệu, chia di sản thừa kế theo pháp luật, nhưng không chia cho bị đơn do vợ bị đơn có hành vi giả mạo đ chiếm đoạt lợi ích của người thừa kế khác của c T.
- Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày tại phiên tòa phúc thẩm:
Quyền s d ng đất của c T là tài sản riêng của c T theo Quyết định số 303 của UBND thành phố T. Việc tặng cho đất các con của c T đều khẳng định đất được c T cho, nên các đương s này đã mặc định là đất của c T, nên c T được định đoạt. Năm 2001 c T được cấp giấy chứng nhận bị sai, được đính chính lại vào năm 2013. Theo Thông tư số 17 năm 2009 có quy định về giấy chứng nhận quyền s d ng đất (Điều 12 khoản 1 đi m q) có sai sót thì ghi nội dung sai sót được đính chính, ghi ngày tháng năm và đóng dấu. Việc đính chính giấy chứng nhận quyền s d ng đất vào năm 2013 là đúng quy định của pháp luật. Về di chúc: Giấy khám sức khỏe là của c T, so sánh giấy ngày 29/8/2013 và kết quả t nghiệm của c T do nguyên đơn cung cấp từ ngày 06/8/2013 là hoàn toàn phù hợp. Về việc đ c thủy tinh th thì mắt đọc được. Văn phòng công chứng cũng ác định nội dung nghe đọc được của c T khi ác nhận di chúc. Về phiếu yêu cầu công chứng là của bà S ký, nhưng khi Tòa án ác minh tại Văn phòng công chứng thì th hiện một số trường hợp vẫn cho người nhà ký tên vào phiếu yêu cầu công chứng, phiếu này chỉ có ý nghĩa ác nhận việc có yêu cầu công chứng. C T là người yêu cầu công chứng nên không vi phạm Luật Công chứng năm 2006. Bị đơn ác định quyền s d ng đất là của c T, người lập di chúc hoàn toàn minh mẫn, nên đề nghị Tòa án công nhận di chúc ngày 29/8/2013 đ giao đất cho ông P (trừ 300m2 (đo đạc th c tế 303,2m2) đã cho ông L).
- Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị B (ông Lê Hữu T1 đại diện) trình bày tại phiên tòa phúc thẩm: Đồng ý với lời trình bày của đại diện nguyên đơn. Về ý kiến của bị đơn đối với di chúc, bị đơn trình bày cho rằng chữ ký vào phiếu yêu cầu công chứng là không quan trọng, nhưng theo Luật Công chứng đây là giấy tờ quan trọng. Theo Điều 48 Luật Công chứng thì người yêu cầu công chứng phải t mình không được ủy quyền cho người khác, c T phải t mình yêu cầu. Nhưng trong trường hợp này người khác ký phiếu yêu cầu là không đúng. Đối với tài sản di chúc ghi hơn 5.000m2, nhưng trước đó đã cho bà Thảo 300m2, đã ây nhà, ai cũng biết. C T càng biết rõ nên tài sản này không th th c hiện chia theo di chúc được do vượt quá di sản. Về giấy khám sức khỏe, bị đơn khẳng định c T khỏe mạnh minh mẫn, nhưng buổi sáng văn phòng công chứng ác định c T bị bệnh run tay. Bị đơn ác định c T bị run tay từ 01 tháng trước khi lập di chúc. Từ những căn cứ trên đề nghị tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, s a án sơ thẩm, chia thừa kế theo pháp luật.
- Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Thành D (ông Lê Hữu T đại diện) trình bày tại phiên tòa phúc thẩm: Di chúc ngày 29/8/2013 vô hiệu về mặt hình thức do không đánh số trang, nội dung trái pháp luật (tài sản có nhà nhưng không đề cập, tại sao c T có 06 người con mà chỉ cho ông P được hư ng, trong khi đó bà H không th t nuôi sống bản thân). Giấy khám sức khỏe có dấu hiệu tẩy óa giả mạo: Công văn 1585 ngày 11/8/2020 thì bệnh viện khẳng định ngày 28 c T không đến bệnh viện khám bệnh. Phiếu yêu cầu công chứng được em tương t như đơn kh i kiện (không có đơn kh i kiện thì Tòa án không th th lý v án), đây là tài liệu bước đầu đ văn phòng công chứng tiếp nhận giao dịch dân s là công chứng. Trước đây bà S nói bên phòng công chứng ký, nhưng sau đó bà S thừa nhận bà S ký, đây là hành vi giả mạo, không phải ý chí c T. Đề nghị Tòa án chuy n v việc sang cơ quan điều tra. Tại thời đi m công chứng, công chứng viên cho rằng c T run tay, nhưng giấy khám sức khỏe ngày 29/8 th hiện c T khỏe mạnh. Các dữ liệu đưa ra là đ có kết luận, nhưng các dữ liệu là không phù hợp với kết luận. Chủ th lập di chúc: Việc lập di chúc đang từ tài sản của hộ thành tài sản của cá nhân. Trên sổ hộ khẩu có 03 người, khi làm thủ t c ủy quyền đ sang tên thì phải có 03 chủ th đi làm thủ t c ủy quyền sang tên, nhưng chỉ có c T ủy quyền cho người khác làm thủ t c là không hợp pháp. Việc c T lập di chúc định đoạt tài sản chung là không hợp pháp, chưa đủ quyền năng. Đề nghị Tòa án tuyên vô hiệu di chúc, chia di sản theo pháp luật. Bản án sơ thẩm chưa khách quan toàn diện.
- Ý kiến của bà Nguyễn Thị H: Năm 2013 sổ đất từ hộ gia đình chuy n sang cá nhân là không nhầm, vì năm 1995 là của ông Tư ng, năm 2001 chuy n sang hộ là do c T có nhiều vợ, chuy n sang hộ đ các con đều được hư ng. Năm 2013 lại đổi sổ từ hộ sang cá nhân.
- Ý kiến của đại diện Viện i m sát nhân dân tỉnh Bình Dương:
Về tố t ng: Những người tiến hành tố t ng và người tham gia tố t ng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã th c hiện đúng quy định của Bộ luật Tố t ng dân s về phiên tòa phúc thẩm.
Về nội dung: Di chúc không có chữ ký của c T, cấp sơ thẩm chưa làm rõ việc không có chữ ký của c T là nguyên nhân do đâu, có th do c T không biết chữ hay là c T bị mất khả năng viết chữ hay là bị bệnh run tay nên không th viết chữ vào tờ di chúc.
Hồ sơ cũng chưa rõ bệnh run tay phát sinh từ thời đi m nào. Giấy ủy quyền ngày 31/7/2013 có chữ ký của c T và chữ viết. Theo người làm chứng là bà H và ông P thì c T đã đọc lại toàn bộ di chúc, công chứng viên đã chứng là c T bị run tay, nên đã mời người làm chứng. C T đã đọc lại toàn bộ nội dung di chúc. Tại giấy khám sức khỏe đã kết luận c T bị bệnh đ c thủy tinh th tiến tri n. Cấp sơ thẩm chưa làm rõ tình trạng bệnh có gây ảnh hư ng đến khả năng đọc chữ hay không, hay làm mất khả năng đọc chữ của c T, vấn đề này cần thiết làm rõ đ đánh giá nội dung di chúc được c T đọc lại hay không đ ác định ý chí của c T. Tại phần kết luận của Giấy khám sức khỏe không kết luận có đủ sức khỏe hay không đủ sức khỏe đ lập di chúc. Đề nghị Hội đồng t tạm ngừng phiên tòa đ làm rõ tại cơ s y tế về việc đ c thủy tinh th có ảnh hư ng đến khả năng đọc chữ hay không; việc c T không ký có phải là do run tay hay bị bệnh dẫn đến không có khả năng viết và ký.
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ v án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh t ng tại phiên tòa, ý kiến của i m sát viên,
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố t ng:
[1.1] háng cáo của nguyên đơn là ông Nguyễn Tấn L và của người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị H, bà Trịnh Hồng N, ông Nguyễn Thành D được th c hiện trong thời hạn luật định; nội dung kháng cáo và hình thức đơn kháng cáo phù hợp quy định của Bộ luật Tố t ng dân s , nên v án được t theo thủ t c phúc thẩm.
[1.2] Tòa án cấp sơ thẩm ác định ông Nguyễn Văn T (sinh năm 1955, chết năm 2011), bà Nguyễn Thị L (sinh năm 1957, chết năm 2008) là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan và ác định ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thị Thu N, ông Nguyễn Thành D, ông Trịnh Văn Q, ông Trịnh Hữu T, ông Trịnh Quốc H, ông Trịnh Quốc T, bà Trịnh Hồng N là người kế thừa quyền, nghĩa v tố t ng là ác định sai tư cách tố t ng. B i lẽ, ông T và bà L chết trước thời đi m Tòa án cấp sơ thẩm th lý v án, nên thừa kế thế vị của ông T và bà L được ác định là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan, không phải là người kế thừa quyền, nghĩa v tố t ng.
[1.3] Ngày 30/10/2017, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là c Huỳnh Thị L có đơn yêu cầu độc lập. Tòa án cấp sơ thẩm đã th lý đơn yêu cầu độc lập của c L theo Thông báo về việc th lý yêu cầu độc lập số 304/TB-TLVABS ngày 30/10/2017. Ngày 24/12/2017 c L chết. Ngày 10/5/2018, tại văn bản trình bày ý kiến và đề nghị giải quyết vắng mặt của bà Trần Thị N (là người kế thừa quyền, nghĩa v tố t ng của c L) đã có ý kiến rút toàn bộ yêu cầu độc lập, không tranh chấp gì đối với di sản mà các đương s đang tranh chấp trong v án. Tòa án cấp sơ thẩm không quyết định đình chỉ phần này trong bản án là thiếu sót.
[1.4] Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị L là con c T và chết trước c T, theo quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân s về thừa kế thế vị thì các con của ông T, bà L là người được hư ng phần di sản mà ông T, bà L được hư ng nếu còn sống. Tuy nhiên, tại m c 4 phần quyết định của bản án đã tuyên: “Ông Nguyễn Văn P có trách nhiệm thanh toán cho các ỷ phần còn lại gồm ông Nguyễn Tấn L, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn T (do vợ và các con ông T nhận thay), bà Nguyễn Thị L (do chồng và các con bà L nhận thay) mỗi người với số tiền 27.867.000 đồng” là không phù hợp. Vì vợ ông T và chồng bà L không phải là người thừa kế thế vị của ông T, bà L; mặt khác, việc giao kỷ phần thừa kế cho người chết là không đúng.
[1.5] Tuy nhiên, những thiếu sót nêu trên không làm thay đổi bản chất của v việc, không gây ảnh hư ng quyền và lợi ích hợp pháp của các đương s , nên không em là vi phạm nghiêm trọng thủ t c tố t ng, Tòa án cấp sơ thẩm cần lưu ý rút kinh nghiệm.
[1.6] Trong thời gian chuẩn bị t phúc thẩm, đương s , người đại diện hợp pháp của đương s là ông Trương Dương D, ông Lê Hữu T1, ông Lê Hữu T có nhiều đơn khiếu nại về việc tiến hành tố t ng, về chứng cứ. Tòa án đã giải quyết khiếu nại đầy đủ theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, đương s , người đại diện hợp pháp của đương s không thắc mắc gì về kết quả giải quyết khiếu nại của Tòa án; về hành vi tố t ng của Thẩm phán, Thư ký.
[2] Nội dung: Các đương s có lời khai thống nhất với nhau về quan hệ huyết thống, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố t ng dân s thì đây là tình tiết, s kiện không phải chứng minh. Có đủ căn cứ đ Tòa án xác định hàng thừa kế thứ nhất của c T, gồm: C Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn T (đã chết, các con là thừa kế thế vị), bà Nguyễn Thị L (đã chết, các con là thừa kế thế vị), bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Tấn L (nguyên đơn) và ông Nguyễn Văn P (bị đơn).
[3] X t yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn, ý kiến của nguyên đơn phản bác chứng cứ bị đơn uất trình là di chúc ngày 29/8/2013 thấy rằng:
[3.1] Quá trình tham gia tố t ng, các bên đương s đều có lời khai thống nhất, th a đất được th hiện trong di chúc được Văn phòng Công chứng S công chứng số 007468, có nguồn gốc của cha mẹ c T là cố Nguyễn Văn T1 và cố Nguyễn Thị T2 đ lại cho c T.
[3.2] Nguồn gốc đất, quyền định đoạt di sản: Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền s d ng đất số 0618/GCN-SB cũng th hiện nguồn gốc đất là do cố T1 và cố T2 cho c T. Tại Quyết định số 303/QĐ-UB ngày 30/01/1991 của UBND thị ã T th hiện UBND thị ã T thu hồi đất của cố T1 giao cho c T. Tại Biên bản ki m tra địa chính và khảo sát hiện trạng diện tích s d ng đất ngày 28/7/1995 của UBND thị ã T khi c T có đơn yêu cầu điều chỉnh diện tích đ cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất cũng th hiện nguồn gốc đất do cố T1 đ lại cho c T theo Quyết định số 303/QĐ/UB ngày 30/1/1991. hi được cấp lại Giấy chứng nhận năm 1995 (số 67 QSDĐ/TA do UBND thị ã T cấp ngày 15/8/1995), do cá nhân c T đứng tên.
[3.3] Tại Công văn số 143/TNMT ngày 07/02/2018 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T phúc đáp Công văn số 231/TA-DS ngày 11/10/2017 của Tòa án cấp sơ thẩm th hiện: Năm 2001 c T có đơn đăng ký đổi giấy chứng nhận quyền s d ng đất, được UBND ã T (nay là phường T) ác nhận: “Đ/S Nguyễn Văn T ng ấp 6, ã T, đất đã được cấp GCN đất và hiện nay không có tranh chấp”.
[3.4] Xét Giấy chứng nhận quyền s d ng đất số 0274 QSDĐ/H năm 2001 th hiện đất cấp cho “Hộ” c T là việc cấp theo mẫu chung, không đúng với ý chí của c T và đã được cơ quan chức năng điều chỉnh lại cho đúng người s d ng đất là cá nhân c T vào năm 2013 theo yêu cầu của người s d ng đất hợp pháp là c T. hi th c hiện việc điều chỉnh thông tin trên giấy chứng nhận quyền s d ng đất vào năm 2013, c T đã lập thủ t c ủy quyền cho ông Dương Văn Hai th c hiện, việc lập ủy quyền này được th c hiện tại Ủy ban nhân dân ã T (nay là phường T), có ác nhận chữ ký của người ủy quyền (là c T) tr c tiếp ký giấy ủy quyền. Đây là ý chí của c T và Văn phòng đăng ký quyền s d ng đất thành phố T đã chấp nhận và th c hiện việc điều chỉnh thông tin theo đề nghị của c T là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3.5] Th c tế quá trình quản lý, s d ng đất: Ngày 08/2/2012, c T đã th c hiện việc tặng cho một phần quyền s d ng đất có diện tích 750m2 cho nguyên đơn (ông L) và tặng cho những người con khác là Nguyễn Thị B 536m2, bà Nguyễn Thị L 818m2, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H 648m2. Nguyên đơn thừa nhận diện tích đất gia đình nguyên đơn đang hiện nay là đất được c T tặng cho đ được chính quyền ây nhà tình thương (xây nhà cho bà T – vợ ông L). Như vậy, nguyên đơn và những người con khác của c T đã th hiện ý chí thừa nhận quyền s d ng th a đất tranh chấp là của cha mình (c T) theo giấy chứng nhận quyền s d ng đất được cấp năm 1995 và phù hợp với nguồn gốc đất.
[3.6] Xét, nguồn gốc đất do c T thừa hư ng của cố T1 và cố T2 từ trước năm 1975. Người vợ đầu của c T là c Đ, chết năm 1966; người vợ thứ hai là c Đ1, chết năm 1978, đều trước thời đi m c T được cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất lần đầu; người vợ thứ ba là c L, chết năm 2017, do bà N kế thừa quyền và nghĩa v tố t ng ác định không tranh chấp di sản thừa kế với những người thừa kế của c T. Cùng với nhận định tại m c [4], có cơ s khẳng định quyền s d ng đất c T đ lại không phải là tài sản của hộ mà là di sản của c T. Do đó, việc c T lập di chúc ngày 29/8/2013, đ lại toàn bộ quyền s d ng đất cho bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật (Điều 609, 626 Bộ luật Dân s ).
[4] X t hiệu l c của di chúc: Bên nguyên đơn cho rằng trong các ngày 26, 27 và 28/8/2013 c T phải nằm điều trị bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương, nhưng bệnh không thuyên giảm, theo đề nghị của gia đình, ngày 29/08/2013, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương đã làm thủ t c và chuy n viện, đưa c T uống Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh đ điều trị trong khoảng 01 tuần thì được uất viện. Như vậy, từ ngày 26/08/2013 đến khoảng ngày 05/09/2013, c T phải nhập viện cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương và Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh. Do vậy, Giấy chứng nhận sức khỏe do Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương cấp ngày 28/08/2013 dùng vào việc c T lập di chúc là có bi u hiện mờ ám, không đúng s thật khách quan vì sức khỏe c T yếu, không đủ minh mẫn, sáng suốt đ lập di chúc.
[5] X t thấy, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ th hiện: Theo Giấy chuy n viện ngày 29/08/2013 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương thì lý do c T chuy n viện là “Tái khám”, việc chuy n viện được ghi nhận là: “T túc”.
[6] Tại Biên bản ác minh của Tòa án cấp sơ thẩm ngày 11/6/2018 về việc khám và điều trị bệnh của c T vào ngày 29/8/2013, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương xác định: “Ngày 29/8/2013, ông Nguyễn Văn T đã đến khám tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương theo hình thức khám định kỳ có bảo hi m y tế và được chuy n tuyến từ Trung tâm y tế thành phố T theo giấy chuy n viện ngày 29/8/2013. hi th c hiện chuy n tuyến thì đương s Nguyễn Văn T tỉnh táo, việc chuy n tuyến là có nguyện vọng từ ông Tư ng vì trước đây ông Tư ng điều trị bệnh tại Bệnh viện Chợ Rẫy”.
[7] Tại Công văn số 1705/CV-BVĐ ngày 06/8/2018 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương g i Tòa án cấp sơ thẩm có nội dung “Qua tra cứu hệ thống lưu trữ phần mềm quản lý thông tin người bệnh từ ngày 25/8/2013 đến ngày 29/8/2013, ông Nguyễn Văn T không nhập viện điều trị nội trú tại hoa cấp cứu Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương”.
[8] ết quả Tòa án cấp phúc thẩm ác minh đối với Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương: Tại văn bản số 1585/BVĐ - HTH ngày 11 tháng 8 năm 2020 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương ác định: “Qua tra cứu hệ thống lưu trữ phần mềm quản lý thông tin người bệnh từ ngày 25/8/2013 đến ngày 29/8/2013 ghi nhận: Ông Nguyễn Văn T có đến khám sức khỏe và được cấp giấy chứng nhận ngày 29/8/2013 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương với m c đích bổ sung làm di chúc (ngày 28/8/2013 ghi nhận ông Nguyễn Văn T không đến khám sức khỏe tại Bệnh viện).
- Tại thời đi m khám ghi nhận tình trạng sức khỏe ông Nguyễn Văn T:
+ 02 mắt đ c thủy tinh th tiến tri n, viêm họng mãn, mất sức nhai, cơ quan khác chưa ghi nhận bất thường.
+ X- Quang tim phổi: Tim phổi hình ảnh đám mờ dạng ơ hóa nằm hạ đòn.
+ ết luận: Mắc bệnh theo dõi Lao phổi, đ c thủy tinh th tiến tri n và đạt sức khỏe loại IV.
Về trạng thái tinh thần của ông Nguyễn Văn T phần tâm thần kinh Bác sĩ có ghi rõ tình trạng của ông là tỉnh, tiếp úc được (có minh mẫn).”
[9] X t thấy, kết quả ác minh của Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm có khác nhau về từ ngữ, nhưng nội dung phù hợp với nhau; đi m khác là ngày 28/8/2013 c T không nhập viện điều trị bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương. Ngày 29/8/2013, c T có đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương khám bệnh đ lập di chúc và in giấy chuy n viện đi khám bệnh (tái khám bệnh nền) tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì c T s d ng bảo hi m y tế trong việc khám chữa bệnh, nếu có giấy chuy n viện theo đúng tuyến sẽ giúp giảm được chi phí khám, chữa bệnh như lời trình bày của bên bị đơn là phù hợp.
[10] Tại Giấy chuy n viện của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương (phòng khám Thần kinh duyệt Giấy chuy n viện ngày 03/9/2013 với mã A23 CR 10 3259 (người duyệt là Bác sỹ Huỳnh Ngọc H) và các Đơn thuốc, Phiếu t nghiệm khác cũng th hiện ngày 03/9/2013 c T mới tiến hành việc tái khám tại Bệnh viện Chợ Rẫy, diễn biến và kết quả c th như sau:
- “Phiếu kết quả t nghiệm huyết học, sinh hóa lúc 10h35 ngày 03/9/2013;
- Phiếu t nghiệm Xquang ngày 03/9/2013;
- Phiếu t nghiệm đờm soi tr c tiếp ngày 03/9/2013;
- Đơn thuốc có số toa 2765319 ngày 05/9/2015 cũng th hiện c Nguyễn Văn T có ngày khám là 03/9/2013;
Tại bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú ngày 04/9/2013 của c Nguyễn Văn T ghi nhận:
“Đến khám: ngày 03/9/2013
ết thúc đợt điều trị ngoại trú 11h00 ngày 03/9/2013
Nơi chuy n đến: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương”.
[11] Đánh giá tài liệu, chứng cứ nêu trên, có căn cứ khẳng định: Ngày 29/8/2013, c T khám bệnh đ lập di chúc tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương và in giấy chuy n viện đ đi tái khám bệnh nền tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 03/9/2013 c T mới bắt đầu khám bệnh tại Bệnh viện Chợ Rẫy, việc khám bệnh là ngoại trú, đã kết thúc khám bệnh lúc 11h ngày 03/9/2013 và tiếp t c được hẹn làm các t nghiệm khác vào ngày 04 và ngày 05/9/2013. Như vậy, c T không nhập viện cấp cứu tại bệnh viện trong khoảng thời gian từ ngày 26/8/2013 đến ngày 05/9/2013 như lời trình bày của nguyên đơn.
[12] X t ý kiến của đương s (nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan tham gia tố t ng với bên nguyên đơn) cho rằng chứng cứ là giấy chứng nhận sức khỏe lưu tại hồ sơ công chứng bị giả mạo. Thấy rằng, giấy chứng nhận sức khỏe do bị đơn cung cấp (bản chính) và giấy chứng nhận sức khỏe do Văn phòng Công chứng S cung cấp có một số chi tiết khác nhau chỗ: Tại m c IV giấy chứng nhận sức khỏe nguyên đơn cung cấp đánh dấu ch o ( ) vào ô “mắc bệnh” (tên bệnh: TD lao phổi, đ c t3 tiến tri n). Trong giấy chứng nhận sức khỏe lưu tại hồ sơ công chứng đánh dấu ch o ( ) vào ô “khỏe mạnh” (tên bệnh ghi như trong giấy chứng nhận sức khỏe do bị đơn cung cấp). S khác nhau thứ hai là: Giấy chứng nhận sức khỏe lưu trong hồ sơ công chứng có dấu hiệu s a chữa từ ngày 29 (29/8/2013) thành ngày 28 (28/8/2013). Đ làm rõ những tình tiết này, ngày 11/9/2020, Hội đồng t đã quyết định tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm đ ác minh. Theo biên bản ác minh ngày 21/9/2020 đối với Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương (người cung cấp thông tin là bác sỹ Nguyễn Văn T – chức v : Phó Giám đốc và bác sỹ Đặng Thị Thu H, nguyên là Phó khoa khám bệnh) th hiện như sau: Qua em t 02 giấy khám sức khỏe nêu trên, tôi ác nhận 02 giấy khám sức khỏe này đúng bi u mẫu, con dấu và các chữ ký của các bác sĩ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương. Riêng giấy khám sức khỏe có dấu hiệu s a chữa ngày 29 thành ngày 28 thì bệnh viện không ác nhận việc s a chữa này (vì việc s a chữa không th tùy tiện). Giấy khám sức khỏe thông thường bệnh viện phát hành 04 bản tất cả đều có chữ ký tươi của bác sĩ và dấu đỏ của bệnh viện. Vì tình trạng sức khỏe của bệnh nhân quan trọng là phần kết luận ghi bằng chữ của bác sĩ, còn phần đánh ch o vào ô vuông không quan trọng bằng phần bác sĩ viết tay kết luận. Đối với giấy khám sức khỏe của ông Nguyễn Văn T, bác sĩ kết luận “TD lao phổi + đ c t3 tiến tri n” là phù hợp với kết luận sức khỏe loại 4 (IV). Về thần kinh giấy khám sức khỏe th hiện: Tỉnh, tiếp úc được thì em như sức khỏe ông T có th nhận thức được. Đối chiếu các dữ liệu, lịch s khám chữa bệnh còn lưu trọng máy tính thì ngày 29/8/2013, Bệnh viện có khám sức khỏe cho ông T và cấp cho ông T giấy chuy n tuyến, đ ông T đi khám bệnh tuyến trên (Bệnh viện Chợ Rẫy). Giấy này có th s d ng trong khoảng 05 ngày sau (quy định hiện nay có giá trị s d ng trong 10 ngày).
[13] Xét ý kiến của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương phù hợp và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ là ý kiến và tài liệu, chứng cứ do Bệnh viện Chợ Rẫy cung cấp; ý kiến của Văn phòng Công chứng S và lời khai của người làm chứng ký tên vào di chúc. hông có tài liệu, chứng cứ nào th hiện có s giả mạo, việc có s s a chữa ngày 29 thành ngày 28 trước dãy số 29/8/2013 không làm thay đổi hoặc phản ánh sai tình trạng sức khỏe của c T khi lập di chúc. Đã có đủ căn cứ khẳng định cả 02 Giấy chứng nhận sức khỏe đều do Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương lập là chứng cứ có giá trị chứng minh c T có khám sức khỏe trước khi lập di chúc và tình trạng sức khỏe của c T minh mẫn khi lập di chúc, việc lập di chúc là đúng ý chí của c T.
[14] Việc ghi sai số chứng minh nhân dân của c T trên giấy khám sức khỏe không làm thay đổi hoặc phản ánh sai (hoặc nhầm lẫn) tình trạng sức khỏe của c T như nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm là phù hợp.
[15] X t chữ ký của c T trong “Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng văn bản” ngày 29/8/2013. Đại diện hợp pháp của bị đơn cho rằng không phải chữ ký của c T. Tại biên bản Tòa án cấp phúc thẩm làm việc đối với ông Đoàn Sinh V ngày 17/9/2020, ông Đoàn Sinh V ác định: Thời đi m năm 2013, ông làm việc tại Văn phòng Công chứng S, hiện nay làm Công chứng viên tại Văn phòng Công chứng L, huyện P, tỉnh Bình Dương. Ông Đoàn Sinh V cho biết, phiếu yêu cầu công chứng thông thường do người yêu cầu công chứng ký tên, nhưng th c tế cũng có những trường hợp người già hay không biết chữ thì nhờ người khác ký tên. Chữ ký trong m c “người nhận phiếu” trong phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng văn bản là chữ ký của ông; ngoài ra các dòng chữ viết tay (tại m c các giấy tờ nộp kèm theo gồm có) “giấy khám sức khỏe” và dòng chữ ngày “29/8/13” là chữ viết của ông. Riêng chữ ký họ và tên của người nộp phiếu thì ông Đoàn Sinh V ác định không biết có phải chữ ký của c T hay không, vì không th nhớ chi tiết từng hồ sơ giao dịch tại văn phòng công chứng.
[16] Xét thấy: So sánh giữa chữ ký và chữ viết họ và tên của c T trong phiếu yêu cầu công chứng và việc c T không ký tên mà dùng dấu lăn tay trong di chúc là có s khác biệt. Tuy nhiên, việc trưng cầu giám định chữ ký của c T trong phiếu yêu cầu công chứng là không cần thiết, k o dài thời gian giải quyết v án. B i lẽ, tại biên bản Tòa án cấp phúc thẩm làm việc với bà S ngày 25/02/2021, bà S ác định bà là người ký thay c T vào phiếu yêu cầu công chứng, vì c T run tay không ký được. Đây là tình tiết s kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 192 Bộ luật Tố t ng dân s . Mặt khác, c T có tr c tiếp ký hay không ký vào phiếu yêu cầu công chứng thì cũng không làm thay đổi bản chất vấn đề như Hội đồng t đã phân tích và khẳng định việc c T lập di chúc là đúng s thật và đúng ý chí của c . Tuy nhiên, đ pháp luật được th c hiện nghiêm minh và thống nhất, đề nghị Văn phòng Công chứng S cần lưu ý việc này trong quá trình hành nghề công chứng đối với các trường hợp tương t . Việc bà S ký thay c T là do yếu tố khách quan (c T già yếu, run tay) và nhận thức pháp luật có hạn chế, bà S không cố ý giả mạo giấy tờ đ th c hiện hành vi trái pháp luật. Đây là vấn đề chứng cứ và đánh giá chứng cứ trong tố t ng dân s , không có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình s , nên Hội đồng t không chấp nhận yêu cầu của ông Toàn chuy n v việc sang cơ quan điều tra.
[17] X t ý chí của c T: Tại Công văn số 562/VPCCSS trình bày ý kiến về việc giải quyết v án ngày 31/10/2016 của Văn phòng Công chứng S khẳng định: “Tại thời đi m lập di chúc, ông Nguyễn Văn T đã t nguyện lập di chúc, có đầy đủ năng l c hành vi dân s , đã đọc lại toàn bộ nội dung di chúc. Do ông Nguyễn Văn T bị run tay không viết được nên đã đi m chỉ vào di chúc trước mặt công chứng viên và người làm chứng là bà Lê Ngọc H và ông Nguyễn Tấn P. Như vậy, tại thời đi m công chứng, người lập di chúc hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt, t nguyện, không bị lừa dối, không bị p buộc”.
[18] Lời khai của người làm chứng tại Tòa án cấp sơ thẩm: Tại Bản t khai của bà Lê Ngọc H ngày 27/6/2018, khẳng định: Tại thời đi m bà H ký tên làm chứng thì ông T có mặt tại Văn phòng Công chứng S đ làm thủ t c lập di chúc cho đất cho con ông là Nguyễn Văn P. Thời đi m này, c T vẫn tỉnh táo, bình thường. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bị đơn cho rằng ông Đoàn Tấn P là một trong hai người làm chứng trong di chúc chưa có lời khai; kết quả Tòa án cấp phúc thẩm ác minh đối với ông Nguyễn Tấn P ngày 16/9/2020 , như sau: Ông P không nhớ thời gian c th , nhưng ác nhận có đến Văn phòng Công chứng S (là nhà của chị gái ông cho Văn phòng Công chứng S thuê) đ th c hiện giao dịch đất đai và mua bán e ô tô. Ông cũng không nhớ việc làm chứng di chúc của ông Nguyễn Văn T, vì không quen ông Tư ng. Tuy nhiên, chữ ký và chữ viết họ và tên “Nguyễn Tấn P” làm chứng trong di chúc là của ông. Có lẽ hôm đó Công chứng viên nhờ ông ký làm chứng thì ông ký tên.
[19] ết quả ác minh lời khai của bà Lê Ngọc H phù hợp với lời khai của bà Hân tại Tòa án cấp sơ thẩm và bà H ác định rõ là ngoài bà ký làm chứng thì còn có một người nữa đến Văn phòng Công chứng giao dịch cũng được nhờ ký làm chứng di chúc.
[20] Như vậy, lời khai của ông P và bà H là phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của bà S là người đưa c T đến Văn phòng công chứng và nhờ bà H làm chứng di chúc. Lời khai của người làm chứng có giá trị chứng minh.
[21] Nguyên đơn cho rằng c T không minh mẫn tại thời đi m lập di chúc; giấy khám sức khỏe của c T là giả mạo, nhưng không đưa ra được chứng cứ có giá trị chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Lời khai của bên bị đơn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ v án. Mặt khác, th c tế khách quan là c T có quá trình chung sống lâu dài với vợ chồng bị đơn; khi c ốm đau thì vợ chồng bị đơn chăm sóc, khi c chết thì vợ chồng bị đơn lo việc tang. Vì vậy, việc c lập di chúc định đoạt tài sản (do vợ chồng bị đơn đang quản lý) cho bị đơn là hoàn toàn phù hợp tâm lý, tình cảm phổ biến của người đ lại di sản trong đời sống ã hội. Vì vậy, di chúc c T lập ngày 29 tháng 8 năm 2013 được công chứng hợp pháp, có hiệu l c pháp luật.
[22] Tuy nhiên, ngoài tài sản là quyền s d ng đất còn có căn nhà cấp 4, tường rào, cây lâu năm gắn liền với đất thuộc di sản thừa kế của c T có diện tích theo kết quả đo đạc th c tế là 142,3m2 và nhà tạm diện tích 79,9m2, giá trị theo biên bản định giá ngày 04/5/2022 là: 3.080.000đ/m2 x 20% x 142,3m2 + 3.080.000đ/m2 x 40% x 79,9m2 = 186.093.600 đồng. hi lập di chúc, c T không đề cập tới căn nhà. Vì vậy, căn nhà nêu trên được ác định là di sản chưa được c T định đoạt trong di chúc. Vì vậy, cần phân chia theo quy định của pháp luật cho các đồng thừa kế của c T. X t căn nhà này hiện nay do gia đình bị đơn đang và không th chia thừa kế bằng hiện vật. Vì vậy, việc giao căn nhà cho bị đơn được s hữu và có trách nhiệm thanh toán trị giá kỷ phần cho các đồng thừa kế còn lại là phù hợp.
[23] Đối với các cây trồng trên đất như tầm vông, me, cao su, tràm, khế, vú sữa, xoài, có một số cây do c T trồng, một số cây do vợ chồng bị đơn trồng, chăm sóc từ trước đến nay. Nguyên đơn và các đồng thừa kế khác không có quá trình quản lý, s d ng đất. X t thấy, không ác định được chính ác số cây c T trồng, số cây vợ chồng bị đơn trồng, nên Tòa án ác định mỗi phần cây trồng tương ứng 50% và chia trị giá cho các thừa kế như sau: Tổng giá trị cây trồng theo biên bản định giá ngày 04/5/2022 là 139.904.000 đồng; phần thuộc di sản của c T đ lại tương ứng 69.952.000 đồng; chia cho 06 kỷ phần, mỗi kỷ phần là 11.658.667 đồng. Ông P có nghĩa v thanh toán trị giá cho 05 người thừa kế còn lại; ông P được quyền s hữu các cây trồng là tài sản gắn liền với quyền s d ng đất.
[24] Nhằm giải quyết triệt đ v án, t hàng rào kiên cố lưới B40 có giá 520.000 đ/m2 x 88m2 = 45.760.000 đồng thuộc di sản thừa kế của c T, bị đơn đồng ý chia thừa kế. Vì vậy, Tòa án chia thừa kế theo pháp luật cho 06 kỷ phần, mỗi kỷ phần là 7.626.700 đồng. Ông P có nghĩa v thanh toán trị giá cho 05 người thừa kế còn lại; ông P được quyền s hữu hàng rào lưới B40. Xét xe máy hiệu Dream các đương s ác định là di sản, trị giá là 14.000.000 đồng, bị đơn đồng ý chia thừa kế. Vì vậy, Tòa án chia thừa kế theo pháp luật cho 06 kỷ phần, mỗi kỷ phần là 2.333.333 đồng, ông P khai đã bán e máy này, nên ông P có nghĩa v thanh toán trị giá cho 05 người thừa kế còn lại.
[25] Đối với các công trình khác như nhà tạm, chuồng gà...các đương s không yêu cầu giải quyết vì nhà tạm đã uống cấp, chuồng gà do bị đơn ây d ng, nên không yêu cầu giải quyết, Hội đồng t không em t.
[26] Xét yêu cầu chia tài sản chung là quyền s d ng đất của hộ: Như đã nhận định phần trên, quyền s d ng đất (và tài sản gắn liền với đất) là tài sản của c T, không phải là tài sản của hộ gia đình. Việc nguyên đơn có cùng hộ khẩu với c T không phải là căn cứ ác lập tài sản chung của hộ. Vì vậy, yêu cầu chia tài sản chung của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận.
[27] Đối với diện tích đất 300m2 (đo đạc th c tế 303,2m2) gia đình nguyên đơn đang quản lý, s d ng liền kề đất gia đình bị đơn đang quản lý, s d ng (và đang tranh chấp), các đương s thừa nhận năm 2012 c T đã lập giấy tặng cho nguyên đơn đ được ây nhà tình thương, mặc dù nguyên đơn t nguyện rút yêu cầu này, bị đơn t nguyện giao cho nguyên đơn và vợ nguyên đơn là ông L, bà Thảo tiếp t c được quản lý s d ng. Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận s t nguyện của bị đơn về việc này là hợp tình, hợp lý; đảm bảo việc giải quyết v án triệt đ và không vướng mắc khi cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh, cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất cho người được hư ng di sản thừa kế. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ ghi nhận.
[28] Tổng trị giá di sản của c T chia theo pháp luật, c th như sau:
Giá trị căn nhà cấp 4 gắn liền với đất có diện tích theo kết quả đo đạc th c tế là 142,3m2 và nhà tạm diện tích 79,9m2, trị giá là: 186.093.600 đồng; e máy trị giá là 14.000.000 đồng; 50% trị giá cây trồng là 69.952.000 đồng, hàng rào là 45.760.000 đồng, tổng là: 315.805.600 đồng, giá trị mỗi kỷ phần (làm tròn) là 52.634.300 đồng.
[29] Ý kiến i m sát viên đề nghị tạm ngừng phiên tòa đ ác minh làm rõ một số tình tiết trong việc khám sức khỏe là không cần thiết. Những vấn đề i m sát viên nêu, Hội đồng t đã phân tích rõ.
[30] Từ những phân tích trên, có cơ s chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn là ông Nguyễn Tấn L, người có quyền lợi nghĩa v liên quan là các ông, bà Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị H, Trịnh Hồng N, Nguyễn Thành D.
[31] Về án phí dân s sơ thẩm: Các đương s phải chịu tương ứng với trị giá kỷ phần di sản được chia; đương s là người cao tuổi được miễn án phí.
[32] Về chi phí tố t ng: Các đương s phải chịu tương ứng với trị giá kỷ phần di sản được chia.
[33] Về án phí dân s phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
Q YẾT Đ NH:
- Căn cứ các Điều 147, khoản 2 Điều 148, Điều 157, 158, 165, 166, khoản 2 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố t ng dân s ;
- Căn cứ các Điều 624, 625, 626, 627, 628, 630, 631, 632, 635, 643, 649, 650, 651, 652 của Bộ luật Dân s ;
- Căn cứ Điều 12 và khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn là ông Nguyễn Tấn L và kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa v liên quan là bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị H, bà Trịnh Hồng N, ông Nguyễn Thành D.
2. S a một phần Bản án sơ thẩm số 50/2019/DS-ST ngày 31/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương như sau:
2.1. Đình chỉ t một phần yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn đối với một phần diện tích đất đo đạc th c tế 303,2m2 do gia đình ông Nguyễn Tấn L đang quản lý, s d ng.
2.2. Đình chỉ t yêu cầu độc lập của c Nguyễn Thị L (do bà Trần Thị N là người kế thừa quyền, nghĩa v tố t ng).
2.3. Ghi nhận s t nguyện của bị đơn ông Nguyễn Văn P (do bà Trần Thị Hồng P đại diện) về việc giao cho ông Nguyễn Tấn L, bà Nguyễn Ngọc T được quyền quản lý s d ng diện tích 303,2m2 (ký hiệu A trên sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án), thuộc một phần th a đất số 215, tờ bản đồ số 13 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Ông Nguyễn Tấn L được quyền đăng ký, kê khai, th c hiện thủ t c tách th a đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
(có sơ đồ bản vẽ èm theo).
2.4. Không chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng (di chúc) vô hiệu, tranh chấp tài sản chung, tranh chấp di sản thừa kế.
Xác định di chúc do c Nguyễn Văn T lập, do Văn phòng Công chứng S công chứng số 007468, quy n số 08/TPCC-SCC/HĐGD ngày 29/8/2013 là hợp pháp, có hiệu l c.
Ông Nguyễn Văn P được hư ng di sản thừa kế theo di chúc là 4.869,2m2 (ký hiệu B sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án), thuộc một phần th a đất số 215, tờ bản đồ số 13 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
(có sơ đồ bản vẽ èm theo).
Ông Nguyễn Văn P được quyền đăng ký kê khai quyền s d ng đất được hư ng thừa kế; th c hiện thủ t c cấp đổi giấy chứng nhận quyền s d ng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
2.5. Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp di sản thừa kế đối với di sản không được c Nguyễn Văn T định đoạt trong di chúc như sau:
Chia di sản thừa kế bằng giá trị căn nhà cấp 4 gắn liền với đất có diện tích theo kết quả đo đạc th c tế là 142,3m2 và nhà tạm diện tích 79,9m2, trị giá là: 186.093.600 đồng; e máy trị giá là 14.000.000 đồng; 50% trị giá cây trồng là 69.952.000 đồng, hàng rào kiên cố lưới B40 trị giá là 45.760.000 đồng, tổng là: 315.805.600 đồng, trị giá mỗi kỷ phần (làm tròn) là 52.634.300 đồng (năm mươi hai triệu sáu trăm ba mươi bốn nghìn ba trăm đồng).
Bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Tấn L, ông Nguyễn Văn P, những người thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn T (gồm các ông bà Nguyễn Minh T1, Nguyễn Thành D, Nguyễn Thị Thu N, bà Nguyễn Thị Ngọc T, ông Nguyễn Văn P1), những người thừa kế thế vị của bà Nguyễn Thị L (gồm các ông bà Trịnh Hữu T, Trịnh Quốc H, Trịnh Quốc T, Trịnh Hồng N) mỗi người được chia một kỷ phần 52.634.300 đồng (năm mươi hai triệu sáu trăm ba mươi bốn nghìn ba trăm đồng).
Ông Nguyễn Văn P có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Tấn L, những người thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn T (gồm các ông bà Nguyễn Minh T1, Nguyễn Thành D, Nguyễn Thị Thu N, bà Nguyễn Thị Ngọc T, ông Nguyễn Văn P1), những người thừa kế thế vị của bà Nguyễn Thị L (gồm các ông bà Trịnh Hữu T, Trịnh Quốc H, Trịnh Quốc T, Trịnh Hồng N) giá trị mỗi kỷ phần là 52.634.300 đồng (năm mươi hai triệu sáu trăm ba mươi bốn nghìn ba trăm đồng).
từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền trên (cho những người thừa kế) thì còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân s năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán.
2.6. Ông Nguyễn Văn P được quyền quản lý, s d ng, s hữu căn nhà cấp 4 gắn liền với đất có diện tích theo kết quả đo đạc th c tế là 142,3m2, nhà tạm diện tích 79,9m2, hàng rào kiên cố lưới B40 và các cây trồng trên đất.
Ông Nguyễn Văn P có nghĩa v liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tách diện tích đất 303,2m2 cho ông Nguyễn Tấn L ghi tại m c 2.3 tại phần quyết định của bản án này.
2.7. Về án phí dân s sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Tấn L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí đối với yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu không được chấp nhận và 2.631.700 đồng (hai triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn bảy trăm đồng) án phí đối với phần giá trị tài sản được chia, được khấu trừ vào số tiền 200.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0019667 ngày 06/9/2016 và số tiền 14.250.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu số 0000381 ngày 24/01/2017 của Chi c c Thi hành án dân s thành phố T. Chi c c Thi hành án dân s thành phố T hoàn trả cho ông Nguyễn Tấn L số tiền 11.518.300 đồng (mười một triệu năm trăm mười tám nghìn ba trăm đồng) tạm ứng án phí còn thừa.
- Ông Nguyễn Văn P phải nộp 2.631.700 đồng (hai triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn bảy trăm đồng) án phí dân s sơ thẩm.
- Bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị H được miễn nộp án phí sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Minh T1, ông Nguyễn Thành D, bà Nguyễn Thị Thu N, bà Nguyễn Thị Ngọc T, ông Nguyễn Văn P1 phải liên đới nộp số tiền 2.631.700 đồng (hai triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn bảy trăm đồng) án phí dân s sơ thẩm.
- Ông Trịnh Hữu T, ông Trịnh Quốc H, ông Trịnh Quốc T, bà Trịnh Hồng N phải liên đới nộp số tiền 2.631.700 đồng (hai triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn bảy trăm đồng) án phí dân s sơ thẩm.
2.8. Về chi phí tố t ng (đo đạc, định giá, giám định) tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm, tổng là 9.105.000 đồng, mỗi đương s được hư ng thừa kế phải chịu 1.517.500 đồng (một triệu năm trăm mười bảy nghìn năm trăm đồng).
Ông Nguyễn Tấn L được khấu trừ vào số tiền đã tạm ứng.
Bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn P phải nộp mỗi người 1.517.500 đồng đ hoàn trả cho ông Nguyễn Tấn L.
Ông Nguyễn Minh T1, ông Nguyễn Thành D, bà Nguyễn Thị Thu N, bà Nguyễn Thị Ngọc T, ông Nguyễn Văn P1 phải liên đới nộp 1.517.500 đồng đ hoàn trả cho ông Nguyễn Tấn L.
Ông Trịnh Hữu T, ông Trịnh Quốc H, ông Trịnh Quốc T, bà Trịnh Hồng N phải liên đới nộp 1.517.500 đồng đ hoàn trả cho ông Nguyễn Tấn L.
3. Về án phí dân s phúc thẩm:
Hoàn trả cho ông Nguyễn Tấn L, bà Nguyễn Thị B, bà Trịnh Hồng N, ông Nguyễn Thành D, bà Nguyễn Thị H mỗi người 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân s phúc thẩm đã nộp theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án tương ứng số 0034355, 0034356, 003437, 0034358, 0034359 ngày 07/8/2019 của Chi c c Thi hành án dân s thành phố T.
Bản án phúc thẩm có hiệu l c pháp luật k từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân s , thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân s ./.
| Nơi nhận: - V SND tỉnh Bình Dương; - TAND thành phố T; - Chi c c THADS thành phố T; - Các đương s ; - Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP. TH M HÁN THÀNH VIÊN | TM HỘI Đ NG X T X H C TH M TH M HÁN – CHỦ TỌA HIÊN TÒA Ngô Văn Minh TH M HÁN – CHỦ TỌA HIÊN TÒA |