vanban.org

Bản án 96/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 22/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quang C phạm tội: “Đánh bạc”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Quang C 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ, được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 22/4/2021 đến ngày 24/5/2021 là 33 ngày, quy đổi bằng 99 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt là 05 (năm) tháng 21 (hai mốt) ngày cải tạo không giam giữ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Quang C - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quang C phạm tội: “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN DƯƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2021/HS-ST
Ngày: 22-7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Vượng.

2. Ông Nguyễn Văn Quang.

- Thư ký phiên toà: Bà Ma Thị Vân Kiều - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long - Kiểm sát viên.

Ngày 22/7/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2021/TLST- HS ngày 28 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2021/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:

Bùi Quang C; sinh ngày 12/12/1995 tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã V, huyên S, tỉnh Tuyên Quang; nơi ở hiện nay: thôn A, xã V, huyên S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Quang L, sinh năm 1956 và bà Định Thị V, sinh năm 1962; vợ: Lê T Y, sinh năm 1994; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020; anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ tư; tiền án: Không.

Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 38/QĐ-XPHC ngày 13/3/2020 của Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang xử phạt Bùi Quang C về hành vi đánh bạc bằng hình thức Phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng. Ngày 20/3/2020, C nộp xong tiền phạt.

Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 157/QĐ-XPHC ngày 10/5/2017 của Công an huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Bùi Quang C bằng hình thức phạt tiền về hành vi Vi phạm quy định về trật tự công cộng, mức phạt 2.000.000 đồng. C nộp phạt ngày 26/5/2017.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/4/2021 đến ngày 24/5/2021 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh từ ngày 24/5/2021 đến ngày 09/7/2021 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Khúc Thị X, sinh năm 1994, nơi cư trú: Thôn G, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt).

2. Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn G, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt).

- Người làm chứng: Lê Kim L, Hoàng Minh N (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 17/3/2021, tại nhà của gia đình chị Khúc Thị X, sinh năm 1994 tại Thôn G, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Bùi Quang C (đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc); Đỗ Văn T, sinh năm 1991, cùng cư trú tại thôn Đất Đỏ; Lê Kim L, sinh năm 2000, cư trú tại thôn Gò Hu; Hoàng Minh N, sinh năm 1991, cư trú tại thôn Cây Đa; Nguyễn Văn H, sinh năm 1986, cư trú tại thôn Đ đều thuộc xã V, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang cùng nhau chơi bi a, đến khoảng 12 giờ 40 phút, các đối tượng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh bài tú lơ khơ (3 cây) được thua bằng tiền. C, T, H và N sử dụng mặt bàn bi a làm vị trí để đánh bạc và lấy 36 quân bài tú lơ khơ có sẵn ở bàn bi a làm dụng cụ đánh bạc. Luật chơi được quy định như sau: Sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài, bỏ 16 quân bài gồm 04 bộ tứ từ 10 đến K, chỉ lấy bộ tứ A (tức 1 điểm), 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 với tổng số là 36 quân bài. Mỗi người tham gia đánh bạc được chia 03 quân bài và chơi với người cầm chương (người chia bài là người cầm chương), ai cao điểm hơn người cầm chương thì thắng bạc và được người cầm chương trả cho số tiền thắng bạc bằng với số tiền đã đặt cược, nếu người chơi thấp điểm hơn người cầm chương thì sẽ mất toàn bộ số tiền đã đặt cược cho người cầm chương. Tính điểm bằng cách cộng tổng 03 quân bài lại với nhau và lấy số ở hàng đơn vị của kết quả để so sánh phân thắng thua theo thang điểm 10, điểm cao nhất là 10 điểm (nếu được 20 điểm thì được tính là 10), thấp nhất là 01 điểm. Nếu điểm bằng nhau thì so sánh từng quân bài của hai bên, trước tiên là so theo chất lá bài theo thứ tự từ lớn đến nhỏ là Rô, Cơ, Tép, Bích. Sau đó theo con số của chất, lớn ăn bé theo thứ tự quân A (Át) là quân bài lớn nhất, tiếp đến là theo thứ tự từ lớn đến nhỏ là 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2. Hết ván bạc người chơi nào được 10 điểm sẽ được nhân đôi số tiền cược và được quyền cầm chương ở ván tiếp theo. Quy định mức đặt cược thấp nhất là 10.000 đồng/ván, ai đặt cao hơn thì tùy ý. C, T, H, N đánh bạc đến hồi 13 giờ 30 phút cùng ngày, thì bị Tổ công tác Công an huyện Sơn Dương phát hiện, Bùi Quang C, Nguyễn Văn H, Hoàng Minh N bỏ chạy khỏi hiện trường. Tổ công tác Công an huyện Sơn Dương tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, tại hiện trường đánh bạc thu giữ 36 quân bài tú lơ khơ và số tiền 320.000 đồng. Đỗ Văn T tự nguyện giao nộp số tiền 5.300.000 đồng, T khai nhận là số tiền mang theo người nhưng không sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Quá trình điều tra các đối tượng đánh bạc khai nhận như sau:

- Bùi Quang C sử dụng số tiền 250.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván, khi lực lượng Công an đến thì bỏ chạy, tiền để lại vị trí đánh bạc, không rõ thắng hay thua.

- Đỗ Văn T mang theo từ nhà số tiền 5.500.000 đồng, sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc, còn 5.300.000 đồng cất trong người không sử dụng để đánh bạc, khi bị phát hiện để tiền tại vị trí đánh bạc không rõ thắng hay thua. T tự nguyện giao nộp số tiền đang cất giữ trong người là 5.300.000 đồng.

- Lê Kim L sử dụng số tiền 230.000 đồng để đánh bạc, khi bị phát hiện đang thua 120.000 đồng, số tiền còn lại 110.000 đồng để tại vị trí đánh bạc và bị thu giữ.

- Hoàng Minh N sử dụng số tiền 40.000 đồng để đánh bạc, khi bị phát hiện thì bỏ chạy, tiền để tại vị trí đánh bạc không rõ thắng hay thua.

Tổng số tiền Bùi Quang C, Đỗ Văn T, Lê Kim L và Hoàng Minh N khai nhận sử dụng vào việc đánh bạc là 720.000 đồng.

Cáo trạng số 63/CT-VKSSD, ngày 25/6/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Bùi Quang C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quang C phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Quang C từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giam từ 22/4/2021 đến 24/5/2021 là 33 ngày.

- Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 36 quân bài tú lơ khơ là vật chứng của vụ án.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 320.000 đồng là tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc thu giữ được trên chiếu bạc.

+ Trả lại cho Đỗ Văn T số tiền 5.300.000 đồng là tài sản riêng của T.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về nội dung vụ án:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng toàn bộ những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ 12 giờ 40 phút đến 13 giờ 30 phút ngày 17/3/2021, tại nhà của gia đình chị Khúc Thị X tại Thôn G, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Bùi Quang C đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc lại tiếp tục có hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi tú lơ khơ (đánh 03 cây) được thua bằng tiền. Số tiền Bùi Quang C sử dụng để đánh bạc là 250.000 đồng. Tuy số tiền Bùi Quang C cùng Đỗ Văn T, Lê Kim L, Hoàng Văn N sử dụng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng Bùi Quang C đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Bùi Quang C về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, bị cáo đánh bạc bằng hình thức đánh tú lơ khơ (đánh 03 cây) được thua bằng tiền sát phạt nhau. Bản thân bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa hết thời hạn 01 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính để được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, không tu dưỡng, rèn luyện, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, khi bị bắt quả tang đã bỏ chạy khỏi hiện trường. Do vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo sớm trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt cần áp dụng cho bị cáo để có mức án phù hợp.

Về nhân thân: Ngày 10/5/2017 bị Công an huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Vi phạm quy định về trật tự công cộng (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 157/QĐ-XPHC ngày 10/5/2017), bị cáo nộp phạt ngày 26/5/2017. Tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có quy định: “...người bị xử phạt vi phạm hành chính mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 6 tháng”. Do vậy cần áp dụng theo nguyên tắc có lợi, bị cáo C được coi là chưa bị xử phạt hành chính.

Ngày 13/3/2020 Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang xử phạt Bùi Quang C về hành vi đánh bạc bằng hình thức Phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 38/QĐ-XPHC ngày 13/3/2020). Ngày 20/3/2020, C đã nộp xong tiền phạt. Tính đến ngày 17/3/2021, Bùi Quang C chưa được xóa tiền sự mà lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, mặc dù số tiền C và các đối tượng khác sử dụng để đánh bạc chưa đến 5.000.000 đồng nhưng C đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc, đây là tình tiết định tội đối với bị cáo.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, có 01 tiền sự được xác định là tình tiết định tội, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản gì riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng:

Đối với 36 quân bài tú lơ khơ là công cụ, phương tiện bị cáo và các đối tượng sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 320.000 đồng thu tại vị trí các đối tượng đánh bạc là tang vật của vụ án cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 5.300.000 đồng Đỗ Văn T tự nguyện giao nộp là tài sản của Đỗ Văn T, không sử dụng vào việc phạm tội, cần tuyên trả lại cho Đỗ Văn T.

Về các vấn đề khác:

Đối với Đỗ Văn T, Lê Kim L, Hoàng Minh N không có tiền án về tội đánh bạc và tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật hình sự; không có tiền sự về hành vi đánh bạc, hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật hình sự; số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, do vậy hành vi của T, Long, N không cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Công an huyện Sơn Dương đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 211, 212, 213 cùng ngày 18/6/2021, hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000đồng.

Đối với Nguyễn Văn H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương đã ra thông báo truy tìm nhưng chưa xác định được H đang ở đâu; chưa xác định được số tiền H sử dụng vào mục đích đánh bạc là bao nhiêu nên đã tách hành vi của H ra để tiếp tục điều tra làm rõ sau.

Đối với chị Khúc Thị X không biết các đối tượng đánh bạc tại nhà của mình nên không đề cập xử lý.

Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, anh Đỗ Văn T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự;

Căn cứ: Các Điều 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quang C phạm tội: “Đánh bạc”.

1. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Bùi Quang C 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ, được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 22/4/2021 đến ngày 24/5/2021 là 33 ngày, quy đổi bằng 99 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt là 05 (năm) tháng 21 (hai mốt) ngày cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo Bùi Quang C được tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Bùi Quang C cho Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 36 quân bài tú lơ khơ, đã cũ, đã qua sử dụng.

Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/7/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền đã tạm giữ là 320.000 đồng.

- Trả lại cho Đỗ Văn T số tiền là 5.300.000 đồng.

(Số tiền trên hiện đang trong tài khoản số 3949.0.1064844.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương mở tại Kho bạc Nhà nước huyện Sơn Dương).

3. Về án phí và quyền kháng cáo:

- Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Đỗ Văn T được quyền kháng cáo (đối với phần liên quan) trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết bản án hoặc nhận được bản án.

Cỡ chữ