vanban.org

Bản án 96/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 26/07/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Tằng Thị V được ly hôn anh Hoàng Văn S.

Về nuôi con chung: Giao cho chị Tằng Thị V là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu là Hoàng Anh T, sinh ngày 31/5/2015 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Hoàng Văn S có quyền thăm nom con chung, không … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Tằng Thị V được ly hôn anh Hoàng Văn S.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 26-7-2021
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đức Kha

Ông Hoàng Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 26 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 72/2021/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2021 về việc tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15/6/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 05/7/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tằng Thị V, sinh năm: 1995 (vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú:Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Địa chỉ: Bản T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn S, sinh năm: 1992 (vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Hiện đang lao động ở nước ngoài không rõ địa chỉ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai ngày 22/4/2021, nguyên đơn anh chị Tằng Thị V trình bày:

Trải qua một thời gian tìm hiểu và được sự cho phép của hai bên gia đình, chị và anh Hoàng Văn S đã tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang vào ngày 19/3/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chị về chung sống cùng bố mẹ anh S tại Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được thời gian đến cuối năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng không có tiếng nói chung. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hiểu nhau dẫn đến không thể hòa hợp được, tình cảm ngày càng rạn nứt, mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 01/2016 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không còn hạnh phúc, chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng Văn S.

- Về con chung: Chị và anh S có 01 con chung là cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 31/5/2015. Hiện nay cháu T đang ở với chị, ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng cháu Hoàng Anh T và không yêu cầu anh Hoàng Văn S phải đóng góp phí tổn nuôi con chung.

- Về tài sản chung, công nợ: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị V còn trình bày: Hiện nay anh S vẫn đang lao động ở nước ngoài, địa chỉ cụ thể của anh S ở nước ngoài chị không cung cấp được cho Tòa án được vì chị không liên lạc được với anh S, anh S vẫn liên lạc về cho bố anh S là ông Hoàng Văn T, sinh năm 1965; trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nhưng ông T cũng không cung cấp địa chỉ cho chị biết nên chị không biết để cung cấp cho Tòa án.

Do tính chất công việc nên chị không thể tham gia được các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị và anh S được, nên chị đề nghị Tòa án cho chị được vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị và anh Hoàng Văn S.

Bị đơn anh Hoàng Văn S không có bản tự khai.

Ngày 28/4/2021 và ngày 10/5/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã lập biên bản làm việc với bố đẻ của anh Hoàng Văn S là ông Hoàng Văn T, sinh năm 1965; trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để giao thông báo thụ lý vụ án; yêu cầu ông T thông báo cho anh S biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị Tằng Thị V và anh Hoàng Văn S; yêu cầu anh S viết bản tự khai, lời khai về cho Tòa án; yêu cầu ông T cung cấp địa chỉ cụ thể của anh S ở nước ngoài. Tuy nhiên, qua hai lần yêu cầu ông T vẫn giữ nguyên quan điểm là anh S ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho gia đình nhưng ông không cung cấp địa chỉ cụ thể của anh S ở nước ngoài cho Tòa án, vì đây là việc cá nhân của anh S, đồng thời ông cũng không thực hiện theo yêu cầu của Tòa án thông báo cho anh S biết để anh S gửi lời khai về. Kể từ đó đến nay, Tòa án cũng không nhận được bất kỳ lời khai nào của anh S gửi về.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Tằng Thị V vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Hoàng Văn S vắng mặt không có lý do.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, thông qua đơn khởi kiện, bản tự khai của chị V; Biên bản làm việc với bố đẻ của anh S là ông Hoàng Văn T và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn chị Tằng Thị V có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh S không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với anh S; Căn cứ quy định pháp luật xét xử vắng mặt anh Hoàng Văn S là đúng.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 51, 53, 56; điều 81, 82, 83 và khoản 2 điều 123, điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28; khoản 3 điều 35; điểm c khoản 1 điều 37; khoản 4 điều 147; điều 227, điều 228, điều 238, điều 271; điều 273; khoản 2 điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tằng Thị V.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Tằng Thị V được ly hôn anh Hoàng Văn S.

Về con chung: Giao con chung là cháu là Hoàng Anh T, sinh ngày 31/5/2015 cho chị Tằng Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, cấp dưỡng nuôi con không đặt ra do chị V không yêu cầu. Anh Hoàng Văn S có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh S thực hiện quyền này.

Chị Tằng Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Chị Tằng Thị V là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Tằng Thị V.

Đối với bị đơn anh Hoàng Văn S vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành làm việc với bố đẻ của anh S là ông Hoàng Văn T để giao thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu ông T thông báo cho anh S biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị Tằng Thị V và anh Hoàng Văn S; yêu cầu anh S viết bản tự khai, lời khai về cho Tòa án; yêu cầu ông T cung cấp địa chỉ cụ thể của anh S ở nước ngoài. Ông Hoàng Văn T trình bày: Anh S ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho ông. Tuy nhiên, Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà ông T vẫn không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh S cho Tòa án, cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho anh S biết. Nhận thấy đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn anh Hoàng Văn S.

. Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Tằng Thị V là nguyên đơn có đơn xin ly anh Hoàng Văn S, anh S hiện đang lao động tại nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Theo Công văn số 10839/QLXNC-P5 ngày 06/5/2021 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ công an cung cấp: Anh S xuất nhập cảnh 03 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 30/9/2018 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước, địa chỉ cuối cùng của anh S ở Việt Nam là: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Như vậy, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về quan hệ Hôn nhân: Chị Tằng Thị V và anh Hoàng Văn S kết hôn 19/3/2014 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Theo chị V trình bày: Sau khi kết hôn vợ chồng chị về chung sống cùng bố mẹ anh S tại Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được thời gian đầu đến cuối năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng không có tiếng nói chung. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hiểu nhau dẫn đến không thể hòa hợp được, tình cảm ngày càng rạn nứt, mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 01/2016 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không còn hạnh phúc, chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng Văn S.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Tằng Thị V. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị V và anh S chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung, thường xảy ra xô sát. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai nữa. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị V và anh S đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị V. Xử cho chị Tằng Thị V được ly hôn với anh Hoàng Văn S.

. Về nuôi con chung: Chị Tằng Thị V và anh Hoàng Văn S có 01 con chung là cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 31/5/2015. Hiện nay cháu Hoàng Anh T đang ở với chị V. Ly hôn chị V đề nghị được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét yêu cầu nuôi con chung của chị V: Hội đồng xét xử thấy hiện nay anh S đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh Hoàng Văn S từ khi đi nước ngoài thì cháu Hoàng Anh T vẫn do chị V là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, cháu phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, được đi học đầy đủ. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị Tằng Thị V đề nghị được nuôi con chung là Hoàng Anh T. Giao cho chị V là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Hoàng Anh T, sinh ngày 31/5/2015 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với điều kiện thực tế cũng như quyền và lợi ích về mọi mặt của con chung. Sau khi ly hôn anh Hoàng Văn S có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh S thực hiện quyền này.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Trường hợp anh Hoàng Văn S về Việt Nam có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

. Về tài sản, công nợ:Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về án phí:Chị Tằng Thị V phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147;Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Tằng Thị V được ly hôn anh Hoàng Văn S.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Tằng Thị V là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu là Hoàng Anh T, sinh ngày 31/5/2015 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Hoàng Văn S có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh S thực hiện quyền này.

Trường hợp anh Hoàng Văn S về Việt Nam có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

3. Về án phí: Chị Tằng Thị V phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000034 ngày 27/4/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Tằng Thị V đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Tằng Thị V vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Anh Hoàng Văn S hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND tỉnh Bắc Giang;

(Đã ký) -Cục THADS tỉnh Bắc Giang; -UBND xã Đ, huyện Y; -Các đương sự; -Cổng thông tin điện tử TAND;

Hoàng Thị Thu Hiền -Lưu hồ sơ vụ án; -Lưu Tổ HCTP.

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Thành Nguyễn Đức Kha

Hoàng Thị Thu Hiền

Cỡ chữ