- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hồng N và bà Trần Thị O (nguyên đơn) đối với ông Phan Hữu T và ông Phan Hữu K (bị đơn) về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2021/DS-ST Ngày: 23-8-2021 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Đợi
2. Bà Nguyễn Thúy Luân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Lê Thu Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 329/2020/TLST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2020 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2021/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hồng N (Có mặt), sinh năm 1987 và bà Trần Thị O (Có mặt), sinh năm 1990
Cùng địa chỉ: thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ.
- Bị đơn: Ông Phan Hữu T (Vắng mặt) và ông Phan Hữu K (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn (ông Nguyễn Hồng N và bà Trần Thị O) trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa trình bày:
Vào ngày 04/02/2018, vợ chồng ông N, bà O có cho ông Phan Hữu T (là cha ông K) và ông Phan Hữu K (là con ông T) vay số tiền 80.000.000 đồng, trong đó: ông T vay 30.000.000 đồng, còn ông K vay 50.000.000 đồng, thời hạn trả nợ là ngày 10/01/2019, lãi suất trong hạn là 0,20%/tháng và lãi suất quá hạn là 0,2%/ngày. Khi vay không lập hợp đồng nhưng có viết giấy vay tiền do bà Trần Thị O viết tại nhà ông N, bà O và có ký nhận của ông Phan Hữu T và Phan Hữu K sau khi đã nhận tiền vay. Khi giao tiền và viết giấy vay tiền thì chỉ có vợ chồng ông N, bà O và bố con ông Phan Hữu T, Phan Hữu K. Đến nay, ông Phan Hữu T mới thanh toán số tiền lãi phát sinh còn số tiền gốc là 30.000.000 đồng vẫn chưa thanh toán; ông Phan Hữu K mới thanh toán khoản tiền lãi từ ngày 04/02/2018 đến ngày 10/01/2019, còn số tiền gốc đã vay 50.000.000 đồng và khoản tiền lãi từ ngày 10/01/2019 đến tháng 11/2020 vẫn chưa thanh toán. Vợ chồng ông bà đã nhiều lần đến gặp và yêu cầu ông Phan Hữu K phải thanh toán số tiền gốc đã vay 50.000.000 đồng và khoản tiền lãi quá hạn (sau ngày 10/01/2019) nhưng ông Phan Hữu K cứ hứa hết lần này đến lần khác nhưng vẫn không trả nợ.
Nay ông Nguyễn Hồng N và bà Trần Thị O yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phan Hữu T và ông Phan Hữu K thanh toán những khoản sau:
- Đối với ông Phan Hữu T phải thanh toán cho vợ chồng ông bà số tiền gốc đã vay là 30.000.000 đồng.
- Đối với ông Phan Hữu K phải thanh toán cho vợ chồng ông bà số tiền gốc đã vay là 50.000.000 đồng và khoản tiền lãi 11.000.000 đồng (lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 10/01/2019 đến ngày 10/11/2020: 50.000.000 đồng x 1% x 22 tháng = 11.000.000 đồng), tổng cộng phải thanh toán là 61.000.000 đồng.
- Trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Phan Hữu T trình bày:
Vào ngày 04/02/2018, vợ chồng anh N, chị O có cho ông Phan Hữu T (là cha ông K) và ông Phan Hữu K (con ông T) vay số tiền 80.000.000 đồng, trong đó ông T vay 30.000.000 đồng, còn ông K vay 50.000.000 đồng, thời hạn trả nợ là ngày 10/01/2019, lãi suất trong hạn là 0,20%/tháng và lãi suất quá hạn là 0,2%/ngày. Khi vay không lập hợp đồng nhưng có viết giấy vay tiền do bà Trần Thị O viết tại nhà ông N và bà O và có ký nhận của ông T và ông K sau khi đã nhận tiền vay. Sau đó ông T lại vay thêm số tiền 10.000.000 đồng, tổng cộng ông còn nợ 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng). Khi giao tiền và viết giấy vay tiền thì chỉ có vợ chồng anh N chị O và ông T, ông K. Đến nay, ông T đã trả cho vợ chồng anh N chị O số tiền lãi phát sinh, còn số tiền gốc là 40.000.000 đồng chưa thanh toán, ông T xin được trả dần số tiền này. Đối với yêu cầu khởi kiện số tiền gốc đã vay là 30.000.000 đồng ông đồng ý trả nhưng xin được trả dần.
- Trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Phan Hữu K trình bày:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Phan Hữu K theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông K vắng mặt, không đến Tòa án để làm việc, vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do. Do đó, ông Phan Hữu K không có lời trình bày tại Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn, bị đơn đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Phan Hữu T và ông Phan Hữu K đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các bị đơn.
Về nội dung vụ án, căn cứ vào: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 463, Điều 465,Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Phan Hữu T và Phan Hữu K phải trả cho ông Nguyễn Hồng N và bà Trần Thị O tổng số tiền là 91.000.000 đồng, trong đó: ông Phan Hữu T phải trả số tiền 30.000.000 đồng (tiền nợ gốc) và ông Phan Hữu K phải trả số tiền 61.000.000 đồng (50.000.000 đồng tiền nợ gốc và 11.000.000 đồng tiền lãi).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Phan Hữu T và Phan Hữu K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng:
1.1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: ông Nguyễn Hồng N và bà Trần Thị O (nguyên đơn) khởi kiện yêu cầu ông Phan Hữu T và ông Phan Hữu K (bị đơn) phải trả tiền số tiền gốc đã vay và tiền lãi phát sinh, phát sinh tranh chấp từ hợp đồng dân sự vay tài sản theo Điều 463 của Bộ luật dân sự nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2. Về thẩm quyền giải quyết: Ông Phan Hữu T và ông Phan Hữu K (bị đơn) có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ nên Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông thụ lý và giải quyết là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
1.3. Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Ông Phan Hữu T và ông Phan Hữu K vắng mặt tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil đã tống đạt hợp lệ đối với bị đơn để có mặt tại phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mà không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử đã căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.
2. Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
2.1. Về số tiền gốc đã vay và thời hạn trả nợ: Theo các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, thể hiện: Ngày 04/02/2018, ông Phan Hữu T và ông Phan Hữu K có vay của ông Nguyễn Hồng N và bà Trần Thị O số tiền 80.000.000 đồng, trong đó: ông T vay 30.000.000 đồng và ông K vay 50.000.000 đồng, thời hạn trả nợ là ngày 10/01/2019. Ông T và ông K có ký trong giấy xác nhận nợ và có ghi các thông tin cá nhân của ông T, ông K (số chứng minh nhân dân) nên giữa ông Nguyễn Hồng N, bà Trần Thị O và ông Phan Hữu T, ông Phan Hữu K có phát sinh hợp đồng vay tài sản, thời hạn phải trả số tiền gốc đã vay là ngày 10/01/2019.
Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng…”
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành công khai chứng cứ và thông báo kết quả việc công khai chứng cứ cũng như các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T và ông K vẫn không tham gia tố tụng, không có ý kiến cũng như cung cấp các chứng cứ chứng mình để phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định:
…
2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.
…
4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.
Hội đồng xét xử thấy các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là phù hợp, việc giao kết hợp đồng vay tiền giữa các bên là có thật, hình thức hợp đồng và nội dung thỏa thuận việc vay tiền giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với các quy định của pháp luật; đến thời hạn trả nợ mà ông T, ông K không thanh toán số tiền gốc đã vay là vi phạm nghĩa vụ trả nợ, vi phạm hợp đồng đã giao kết.
Khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự quy định:
“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Việc ông Phan Hữu T và ông Phan Hữu K không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông Nguyễn Hồng N và bà Trần Thị O khi đến hạn là vi phạm cam kết và vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền gốc 80.000.000 đồng (ông T phải thanh toán 30.000.000 đồng và ông K phải thanh toán 50.000.000 đồng) đã vay là có căn cứ và cần chấp nhận.
2.2. Về số tiền lãi: nguyên đơn yêu cầu ông Phan Hữu K phải thanh toán số tiền từ ngày 10/01/2019 đến 10/11/2020 là 11.000.000 đồng (50.000.000 đồng x 1%/tháng x 22 tháng). Đối với ông Phan Hữu T đã thanh toán tiền lãi nên nguyên đơn không yêu cầu.
Theo hợp đồng đã giao kết và giấy vay tiền thể hiện các bên có thỏa thuận về lãi suất cụ thể.
Điều 468 của bộ luật dân sự quy định:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”.
Nguyên đơn yêu cầu ông Phan Hữu K phải thanh toán số tiền lãi từ từ ngày 10/01/2019 đến 10/11/2020 là 11.000.000 đồng (50.000.000 đồng x 1%/tháng x 22 tháng); yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận và buộc ông Phan Hữu K phải thanh toán số tiền lãi là 11.000.000 đồng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm (ông Phan Hữu T phải nộp 1.500.000 đồng = 30.000.000 đồng x 5% và ông Phan Hữu K phải nộp 3.050.000 đồng = 61.000.000 đồng x 5%). Trả lại cho ông Nguyễn Hồng N và bà Trần Thị O số tiền tạm ứng án phí 1.525.000 đồng và 750.000 đồng đã nộp.
Xét quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 274, Điều 280, Điều 357, Điều 401, Điều 463, Điều 465,Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hồng N và bà Trần Thị O (nguyên đơn) đối với ông Phan Hữu T và ông Phan Hữu K (bị đơn) về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
1. Buộc ông Phan Hữu T và ông Phan Hữu K phải trả cho ông Nguyễn Hồng N và bà Trần Thị O tổng số tiền là 91.000.000 đồng. Trong đó: Ông Phan Hữu T phải trả số tiền 30.000.000 đồng (tiền nợ gốc), ông Phan Hữu K phải trả số tiền 61.000.000 đồng (gồm: 50.000.000 đồng tiền nợ gốc và 11.000.000 đồng tiền lãi).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Hữu T phải nộp 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và ông Phan Hữu K phải nộp 3.050.000 đồng (Ba triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại ông Nguyễn Hồng N và bà Trần Thị O số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp 1.525.000 đồng (Một triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003703 ngày 11/11/2020 và 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai số 0004866 ngày 04/3/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Mil (02); - Chi cục THADS huyện Đ; - Các đương sự; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Trung Dũng |