vanban.org

Bản án 96/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 09/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phương H phạm tội “ Chiếm giữ trái phép tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Phương H 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Phương H cho Ủy ban nhân dân phường HĐ, quận HK, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chiếm giữ trái phép tài sản - phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản (điều 176 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phương H phạm tội “ Chiếm giữ trái phép tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2020/HSST
Ngày 09 tháng 6 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Yên Bái

Bà Trần Thị Diệp Anh

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phan Lan Hương - Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm: Ông Lê Việt Đức, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 98/2020/HSST ngày 25 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/HSST/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Phương H; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1956; Nơi cư trú: 66 HĐ, phường HĐ, quận HK, Hà Nội; Nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; Trình độ học vấn: 10/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Họ tên cha: Nguyễn Đình T - Đã chết; Họ tên mẹ: Trần Thị L - Đã chết; Gia đình có 03 anh em, bị can là con thứ 3; Bị can có 02 con, sinh năm 1981và 1987; TATS: Không; Bị cáo hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 18/02/2020, chị Phùng Thị H sinh năm: 1972; nơi cư trú: khu 8 thị trấn HH, huyện HH, tỉnh Phú Thọ đến ăn chè tại vỉa hè trước cửa số nhà 64 - 66 HĐ, phường HĐ, quận HK, Hà Nội do Nguyễn Phương H bán hàng và trực tiếp phục vụ. Trong lúc ngồi ăn, chị H có để tại ngăn bàn chị H ngồi 01 chiếc ví màu đen bên trong có 25.000.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu xanh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Edge 6 màu vàng, trong quán lúc này chỉ có H và chị H. Sau khi ăn xong, chị H lấy tiền lẻ trong người để trả tiền rồi đi về, để quên ví lại ngăn bàn. Sau đó, khi dọn dẹp bàn H phát hiện ra chiếc ví của chị H để quên nên đã cất vào bàn bán hàng. Đến khoảng 16 giờ ngày 18/02/2020 khi phát hiện để quên ví chị H đã quay lại quán, tìm dưới ngăn bàn nhưng không thấy, nên đã hỏi H có thấy chiếc ví để quên không, trong ví có rất nhiều tiền. Nghe thấy vậy, H nảy ý định chiếm đoạt nên trả lời không biết. Sau đó, chị H đã đến công an phường HĐ trình báo sự việc. Trong khi chị H đến công an trình báo, H đã vào nhà 66 HĐ và cất giấu chiếc ví của chị H vào gầm chạn để bát đũa trong bếp nhà nhằm mục đích chiếm đoạt.

Tại bản định giá tài sản số 69/BKL-HĐĐG ngày 01/3/2020, của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu xanh trị giá 5.500.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Edge 6 màu vàng trị giá 2.500.000 đồng. Đối với 01 chiếc ví màu đen, trên mặt ví có tấm kim loại ghi chữ “JIN YUAN LI” hiện chưa đủ căn cứ để định giá. Tổng giá trị tài sản là: 33.000.000 đồng.

Tại Công an phường Hàng Đào, ban đầu H không khai nhận việc đã cất giấu chiếc ví của chị H. Qua trích xuất camera tại vỉa hè số 64 Hàng Đường có ghi lại hình ảnh Hạnh lấy chiếc ví của chị H ra từ ngăn bàn, H đã khai nhận hành vi chiếm giữ tài sản như trên, phù hợp với lời khai người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác. Cơ quan công an đã cùng anh Lê Ngọc L (sinh năm: 1981; HKTT: 66 HĐ, phường HĐ, HK; con trai của H) vào số nhà 66 HĐ thu giữ ở gầm chạn 01 chiếc ví màu đen, trên mặt ví có tấm kim loại ghi chữ “JIN YUAN LI”, bên trong ví gồm có: 25.000.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu xanh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Edge 6 màu vàng cùng các 01 chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe ô tô, 01 thẻ ngân hàng VietinBank đều mang tên Phùng Thị H do H cất giấu nhằm mục đích chiếm đoạt.

Đối với chiếc ví thu giữ là tài sản của chị Phùng Thị H, ngày 19/3/2020 Công an quận Hoàn Kiếm đã trao trả cho chị H. Sau khi nhận lại tài sản, chị H không có ý kiến gì.

Tại bản cáo trạng số: 94/CT-VKS ngày 15/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm đã truy tố: Nguyễn Phương H về tội " Chiếm giữ trái phép tài sản” theo khoản 1 Điều 176 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố về hành vi, tội danh và điều luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 04 tháng đến 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng về tội "Chiếm giữ trái phép tài sản” theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 151 và khoản 1 điều 176 BLHS 2015. Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng nêu, nói lời sau cùng ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an quận Hoàn Kiếm; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên quận Hoàn Kiếm trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa, người bị hại, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, người bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, tài sản đã được nhận lại và không có yêu cầu bồi thường dân sự nào khác; người làm chứng vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về định tội và hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng, kết quả định giá cùng các tài liệu chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm đã truy tố có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 15 giờ 00 phút ngày 18 tháng 02 năm 2020 tại vỉa hè số 64 HĐ, phường HĐ, quận HK, Hà Nội, Nguyễn Phương H đã có hành vi cất giấu để chiếm đoạt tài sản của chị Phùng Thị H để quên là 01 chiếc ví bên trong có 25.000.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu xanh trị giá 5.500.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Edge 6 màu vàng trị giá 2.500.000 đồng cùng một số giấy tờ cá nhân của chị H. Tổng giá trị tài sản là 33.000.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận tội; ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; toàn bộ tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu giữ trả lại cho chủ sở hữu. Bị cáo người cao tuổi có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; thuộc diện gia đình chính sách do chồng bị cáo là thương binh hạng 4, người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Phùng Thị H đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất, có đơn xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng của vụ án: không.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phương H phạm tội “ Chiếm giữ trái phép tài sản”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 176 Bộ luật hình sự 2015; Điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Phương H 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Phương H cho Ủy ban nhân dân phường HĐ, quận HK, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp Ủy ban nhân dân phường HĐ trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 45, điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự: Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn bằng hình thức cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Phương H.

* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Phương H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Áp dụng Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo Nguyễn Phương H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ