vanban.org

Bản án 96/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 03/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Ph phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy ”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Ph 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/02/2020. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: số mà túy là Methamphetamine còn lại cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu; (Vật chứng có đặc điểm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Ph phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2020/HS-ST
Ngày 03/07/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Việt Thanh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Đình Phương- Ông Phạm Ngọc Lợi

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Linh Chi – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Lịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 07 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2020/HS-ST ngày 28/05/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2020/QĐXXST-HS ngày 19/06/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn Ph sinh năm:1996, Nơi ĐKHKTT và nơi ở: xóm Thượng 2, xã K, huyện Y, tỉnh N. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa lớp: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn T ( đã chết) và con bà: Phạm Thị H; Vợ, con: chưa có. Tiền án,Tiền sự: không.

Nhân thân: Tại bản án số 33/2015/HSST ngày 16/09/2015 Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh N xử phạt 04 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/02/2020 đến ngày 03/3/2020 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay, có mặt.

Người chứng kiến:

- Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1967. Vắng mặt

-Anh Phạm Viết Đ , sinh năm: 1960. Vắng mặt

-Anh Vũ Văn T, sinh năm: 1991. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Phạm Văn Ph là đối tượng nghiện ma túy, khoảng 10 giờ ngày 26/02/2020, bị cáo điều khiển xe mô tô hiệu Dream biển kiểm soát 35F5 - 4652 đi từ nhà sang khu vực xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, bị cáo gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 200.000 đồng được 01 túi ma túy có đặc điểm là túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Biết là ma túy đá bị cáo cầm ở tay trái sau đó điều khiển xe về thành phố Ninh Bình tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi bị cáo về đến khu vực đường Lê Đại Hành, phố Tây Sơn 1, phường Thanh Bình, thành phố Ninh Bình thì bị Tổ công tác Công an xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình phối hợp với công an phường Thành Bình, thành phố Ninh Bình phát hiện Ph có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Biết không thể che giấu được hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự giác giao nộp từ tay trái 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng cho tổ công tác và khai nhận đây là ma túy vừa mua để sử dụng. Tổ công tác tiến hành niêm phong gói ma túy theo quy định sau đó đưa Phạm Văn Ph cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở công an phường Thanh Bình, thành phố Ninh Bình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra còn thu giữ của Phạm Văn Ph 01 xe mô tô hiệu Dream biển kiểm soát 35F5 -4652.

Tiến hành cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng thu giữ của Phạm Văn Ph có khối lượng là 0,185 gam, ký hiệu M1 gửi giám định xác định loại ma túy, khối lượng ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 73/KLGĐ-PC09-MT ngày 02/3/2020 của Phòng kĩ thuật hình sự công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1708 (không phẩy một nghìn bảy trăm linh tám) gam là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Hoàn trả lại 0,0560 gam chất dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu. Như vậy khối lượng Methamphetamine Phạm Văn Ph cất giữ là 0,1708 gam.

Tại bản Cáo trạng số 88/CT-VKS ngày 27/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Phạm Văn Ph về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn Ph đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Ninh Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Ph từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/2/2020.

Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại cùng vỏ, bao gói niêm phong ban đầu;

Bị cáo phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn Ph không có ý kiến gì với Bản kết luận giám định; Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình; lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện công khai, hợp pháp đúng Pháp luật.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo Phạm Văn Ph đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như vật chứng đã thu giữ; kết luận giám định và phù hợp với lời khai của người chứng kiến. Như vậy đủ cơ sở kết luận ngày 26/02/2020 bị cáo Phạm Văn Ph có hành vi tàng trữ khối lượng 0,1708gam Methamphetamine là ma túy để sử dụng cho bản thân đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là một trong những nguyên nhân gia tăng các tệ nạn xã hội, phát sinh các tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh và trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng bị cáo lại không từ bỏ ma túy, tu dưỡng rèn luyện, để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, mà vẫn đi vào con đường phạm tội. Hội đồng xét xử thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo góp phần phòng ngừa chung trong xã hội.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt cho bị cáo như sau: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; khi bị Tổ công tác kiểm tra hành chính bị cáo đã tự giác lấy ma túy giao nộp và khai nhận hành vi phạm tội của mình là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nói trên để giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nhân thân: Tại bản án số 33/2015/HSST ngày 16/09/2015 Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình xử phạt 04 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian tương xứng với tính chất mức độ hành vi bị cáo đã thực hiện để cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trchs nhiệm hình sự.

Các vấn đề khác:

- Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Phạm Văn Ph tàng trữ trái phép ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân, không mang mục đích vụ lợi, vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về nguồn gốc ma túy: bị cáo Phạm Văn Ph khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực xã Yên Bằng, huyện Ý yên, tỉnh Nam Định nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đủ cở sở điều tra, làm rõ.

- Vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra cơ quan công an có thu giữ của bị cáo 01 gói ma túy có khối lượng 0,1708 gam, đã trích một phần ký hiệu M1 gửi đi giám định, số ma túy còn lại là 0,0560 gam là Methamphetamine, Cơ quan Công an hoàn trả lại cùng toàn bộ vỏ, giấy gói ban đầu, vỏ bao gói niêm phong, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Về tài sản đã thu giữ: Đối với 01 xe mô tô hiệu Dream biển kiểm soát 35F5 - 4652 thu giữ của Phạm Văn Ph, quá trình điều tra xác định, ngày 26/2/2020, Phúc đã mượn chiếc xe mô tô trên của anh Vũ Văn T sinh năm 1991, trú tại xóm Đ, xã K, huyện Y, tỉnh N là bạn của Ph, năm 2018, anh T đã làm mất giấy đăng ký xe. Kết quả xác minh tại Phòng Cảnh sát giao thông công an tỉnh Ninh Bình xác định không có thông tin về chiếc xe mô tô có đặc điểm và biển kiểm soát như trên. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã tách phần tài liệu liên quan đến chiếc xe mô trên để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau. Việc tách phần tài sản trên là phù hợp với quy định của pháp luật.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm r , s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Ph phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy ”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Ph 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/02/2020.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: số mà túy là Methamphetamine còn lại cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu; (Vật chứng có đặc điểm theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 06 năm 2020 giữa Công an Thành phố Ninh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Văn Ph phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ