vanban.org

Bản án 96/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước Tuyên án 07/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố Trần Bình T phạm “Tội Đánh bạc”

Xử phạt bị cáo Trần Bình T 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). [2] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ Luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Bình T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố Trần Bình T phạm “Tội Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐĂNG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2018/HSST
Ngày: 07/11/2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Bảy

Ông Nguyễn Quang Liêu

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đàm - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 87/2018/HSST ngày 28 tháng 9 năm 2018, Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2018/QĐXXST–HS ngày 28 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Bình T, sinh năm 19… tại T

Nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện B, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thành C và bà Nguyễn Thị T; Bị cáo có vợ và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/7/2018 đến ngày 16/7/2018 bị cấm đi khỏi nơi cư trú.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Duy Th, sinh năm 19… (Vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã B, huyện B, tỉnh B.

2. Anh Đoàn Ngọc C, sinh năm 19… (Vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: Thôn D, xã C, huyện B, tỉnh B.

3. Anh Phạm Văn H, sinh năm 19… (Vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã E, huyện B, tỉnh

4. Anh Vi Văn T, sinh năm 19… (Vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã B, huyện B, tỉnh B.

5. Hoàng Văn A, sinh năm 19… (Vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: Thôn D, xã C, huyện B, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 07/7/2018, Trần Bình T nhờ Hoàng Văn M lên mạng internet xem giúp tỷ lệ cá cược (kèo) bóng đá giữa đội tuyển Anh và đội tuyển Thụy Điển trong khuôn khổ giải bóng đá vô địch thế giới Would cup 2018 diễn ra vào lúc 21 giờ 00 phút ngày 07/7/2018. Sau đó, T đã dùng điện thoại di động có hai số thuê bao là 0989.116.519 và 01639.572.852 để nhắn tin kèo cá cược bóng đá đến Nguyễn Duy T, Vi Văn T, Đoàn Ngọc C, Hoàng Văn A, Phạm Văn H và một đối tượng tên T (không rõ nhân thân lai lịch) để tham gia cá cược, cụ thể như sau:

- Cả trận: Anh 1/2c TX 2tc. Nghĩa là Anh chấp Thụy Điển 1/2 bàn (trái), nếu kết thúc trận đấu Anh thắng Thụy Điển cách biệt một bàn trở lên thì ai bắt đội tuyển Anh sẽ thắng tiền cược; nếu có tỷ số hòa hoặc Thụy Điển thắng thì ai bắt đội tuyển Anh sẽ thua.

Tài xỉu là 02 bàn, nếu kết thúc trận đấu mà tổng bàn thắng thua của hai đội là 02 bàn thì hòa, lớn hơn 02 bàn thì ai bắt tài sẽ thắng, nhỏ hơn 02 bàn thì ai bắt xỉu sẽ thắng.

- Hiệp 1: Anh 1/4d a78 TX3/4 x a85 nghĩa là Anh chấp 1/4 bàn, nếu hết hiệp có tỷ số hòa thì ai bắt đội tuyển Anh sẽ thua 1/2 tiền cược, nếu Anh thắng thì ai bắt đội tuyển Anh sẽ thắng đủ tiền cược, nếu Thụy Điển thắng thì ai bắt đội Thụy Điển sẽ thắng 78% tiền cược.

Tài xỉu 3/4 bàn, nếu hết hiệp chưa có bàn thắng thì ai bắt xỉu sẽ thắng 85% tiền cược, nếu tổng bàn thắng thua của hai đội là 01 bàn thì ai bắt tài sẽ thắng 50% tiền cược, nếu tổng bàn thắng thua của hai đội là 02 bàn trở lên thì ai bắt tài sẽ thắng đủ tiền cược.

- Hiệp 2: Anh 1/2d a8 TX 1 1/4c. Nghĩa là: Anh chấp 1/2 bàn, nếu hết hiệp đội tuyển Anh thắng thì ai bắt Anh sẽ ăn đủ tiền cược; nếu tỷ số hòa hoặc Thụy Điển thắng thì ai bắt đội Thụy Điển sẽ thắng 80% tiền cược.

Tài xỉu 11/4 bàn, nếu tổng bàn thắng thua của hai đội là 01bàn thì xỉu thắng 50% tiền cược, nếu không có bàn thắng thì ai bắt xỉu sẽ thắng đủ tiền, nếu tổng bàn thắng của hai đội là 02 bàn trở lên thì ai bắt tài sẽ thắng đủ tiền.

Ngoài ra người chơi còn ghi tỷ số của trận đấu.

Sau khi nhận được tin nhắn của T thì các đối tượng đã nhắn tin cá cược với T cụ thể như sau:

1. Đoàn Ngọc C sử dụng điện thoại có số thuê bao 0965.051… nhắn tin cá cược số tiền là 1.000.000đ, nội dung: Ah duoi 5x, H2 taj 5x (có nghĩa C bắt Thụy Điển thắng 500.000đ và hiệp hai bắt tài với số tiền cược 500.000đ).

2. Nguyễn Duy T sử dụng điện thoại có số thuê bao 0971.363… nhắn tin cá cược số tiền là 3.350.000đ, nội dung: 1-1. 1-2. 2-1. 2-3. 3-2 (50), 3-1 (100), xỉu cả trận 1 tr, tài cả trận 2tr (có nghĩa T bắt tỷ các số 1-1. 1-2. 2-1. 2-3. 3-2 mỗi tỷ số là 50.000đ, tỷ số 3 -1 là 100.000đ, bắt xỉu cả trận 1.000.000đ và bắt tài cả trận 2.000.000đ).

3. Hoàng Văn A sử dụng điện thoại có số thuê bao 0978.184… nhắn tin cá cược số tiền là 600.000đ, nội dung: Anh 3-2 50k. 2-3 50k. 1-2 50k. 2-1 150k. 1-0 50k. 2-0 50k. 2-0 100k. 0-2 50k. 0-0 50k (có nghĩa A bắt tỷ các số 3-2 50k. 2-3 50k. 1-2 50k. 1-0 50k. 2-0 50k. 0-2 50k. 0-0 50k mỗi tỷ số là 50.000đ, tỷ số 2-1 là 150.000đ và tỷ số 2-0 là 100.000đ).

4. Phạm Văn H sử dụng điện thoại có số thuê bao 0962.267… nhắn tin cá cược số tiền là 500.000đ, nội dung: 1-1 100k. 2-1 100k. 1-0 100k. 2-0 200k (có nghĩa H bắt tỷ các số 1-1. 2-1. 1-0 mỗi tỷ số là 100.000đ, tỷ số 2-0 là 200.000đ).

5. Vi Văn T sử dụng điện thoại có số thuê bao 0966.066… để nhắn tin cá cược số tiền 2.200.000đ, nội dung: tài cả trận 1 triệu, tỷ số Anh 2-1 200k. 2-0 150k. 1-1 100k. 2-2 50k. 0-1 50k.3-3 50k. 0-2 100k. 3-0 50k. 4-2 100k. 2-2 100k. 0-3 50k. 2-3 100k. 1-2 100k (có nghĩa T bắt tài cả trận với số tiền cược 1.000.000đ, các tỷ số 1-1. 0-2. 4-2. 2-2. 1-2 mỗi tỷ số là 100.000đ, các tỷ số 2-2. 3-3. 3-0. 0-3. 2-3 mỗi tỷ số 50.000đ, tỷ số 2-1 là 200.000đ và tỷ số 2-0 là 150.000đ).

6. Đối tượng tên T sử dụng điện thoại có số thuê bao 01684.724… nhắn tin cá cược số tiền 5.300.000đ, nội dung: ts 2-1 4x. 3-2 3x. 4-2 2x. 12 – 23 con 1x, trận Thụy Điển 3c, hiệp 1 tài 1c, ts 21 – 12 con 1x (có nghĩa là T bắt Thụy Điển thắng số tiền 3.000.000đ, hiệp 1 bắt tài số tiền cược 1.000.000đ, tỷ số 2-1 là 500.000, tỷ số 3-2 là 300.000, tỷ số 4-2 là 200.000đ, tỷ số 1-2 là 200.000đ, 2-3, là 100.000đ).

Sau khi T nhận được tin nhắn số tiền cá cược của các đối tượng trên thì T nhắn “Ok” để thông báo việc chấp nhận cá cược. Sau đó T đã gửi tin nhắn đến số thuê bao 01632242348 cho Hoàng Văn M với nội dung: “khoảng 4 tr ts” nhưng M không trả lời.

Khoảng 21 giờ ngày 07/7/2018, T cùng với C và T đến quán nước của ông Vòng Thành S, tại Thôn A, xã B, huyện B, tỉnh B ngồi xem bóng đá trực tiếp giữa đội tuyển Anh và đội tuyển Thụy Điển qua tivi để phân định kết quả cá cược. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày khi trận đấu đang diễn ra chưa kết thúc thắng thua thì bị Công an huyện Bù Đăng kiểm tra bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ:

01 điện thoại di động Nokia có hai sim với số thuê bao: 0989.116… và 01639.572… của Trần Bình T, 01 điện thoại di động Nokia, có số thuê bao là: 0965.052… của Đoàn Ngọc C và 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số thuê bao là: 0971.373… của Nguyễn Duy T; Số tiền thu giữ là 3.170.000đ. Cơ quan CSĐT Công an huyện Bù Đăng chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng để phục vụ truy tố, xét xử.

Tại bản cáo trạng số: 83/CT –VKS.BĐ ngày 26/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Trần Bình T về tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát khẳng định nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, vì vậy đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh đề nghị tuyên bị cáo Trần Bình T phạm tội “Đánh bạc”

Về hình phạt đề nghị:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Bình T từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Bình T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Bù Đăng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Ngày 07/7/2018, Trần Bình T đã dùng điện thoại di động có hai số thuê bao là 0989.116.519 và 01639.572.852 để nhắn tin kèo cá cược bóng đá giữa đội tuyển Anh và đội tuyển Thụy Điển với Nguyễn Duy T, Vi Văn T, Đoàn Ngọc C, Hoàng Văn A, Phạm Văn H, và T với tổng số tiền 12.950.000 đồng, khi trận đấu chưa kết thúc thì bị bắt quả tang.

Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của Trần Bình T đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái phép nhưng do coi thường pháp luật nên cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự công cộng và nếp sống văn minh xã hội mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Đối với số tiền các đối tượng Phạm Văn H, Nguyễn Duy T, Đoàn Ngọc C, Vi Văn T và Hoàng Văn A sử dụng vào mục đích đánh bạc thắng thua bằng tiền với bị cáo Trần Bình T cần tịch thu sung công quỹ.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ Luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Cần tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động Nokia có hai sim với số thuê bao: 0989.116… và 01639.572… của bị cáo Trần Bình T.

Cần tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động Nokia, có số thuê bao là: 0965.052… và số tiền 700.000 đồng của anh Đoàn Ngọc C. Buộc anh Đoàn Ngọc C nộp lại số tiền 300.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Cần tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số thuê bao là: 0971.373… và số tiền 470.000 đồng của anh Nguyễn Duy T. Buộc Anh Nguyễn Duy T phải nộp lại số tiền 2.900.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Buộc anh Phạm Văn H phải nộp số tiền 500.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Buộc anh Hoàng Văn A phải nộp số tiền 600.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Buộc anh Vi Văn T phải nộp lại số tiền 2.200.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án: Số tiền 2.000.000 đồng của bị cáo Trần Bình T.

Đối với Đoàn Ngọc C, Nguyễn Duy T, Vi Văn T, Phạm Văn H và Hoàng Văn, do số tiền các đối tượng này sử dụng vào việc đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 12 tháng 9 năm 2018, Công an huyện Bù Đăng đã ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Hoàng Văn M được T nhờ xem tỷ lệ cá cược và đã nhắn tin cho T vào ngày 07/7/2018, nhưng M không biết T sử dụng vào mục đích cá cược bóng đá thắng thua bằng tiền với các đối tượng khác, không bàn bạc, không tham gia cá cược, đồng thời không được hưởng lợi gì từ T nên không đủ cơ sở chứng minh vai trò đồng phạm giúp sức nên không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Riêng đối tượng tên “T”, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch Cơ quan điều tra đã có văn bản yêu cầu cơ quan viễn thông truy nguyên chủ thuê bao số điện thoại 01684.724… nhưng chưa có kết quả. Do thời hạn điều tra đã hết nên tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố Trần Bình T phạm “Tội Đánh bạc”

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, khoản 3, Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Bình T 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

[2] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ Luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:

Tuyên tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động Nokia có hai sim với số thuê bao: 0989.116… và 01639.572… của bị cáo Trần Bình T.

Tuyên tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động Nokia, có số thuê bao là: 0965.052… và số tiền 700.000 đồng của anh Đoàn Ngọc C. Buộc anh Đoàn Ngọc C nộp lại số tiền 300.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Tuyên tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số thuê bao là: 0971.373… và số tiền 470.000 đồng của anh Nguyễn Duy T. Buộc anh Nguyễn Duy T phải nộp lại số tiền 2.900.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Tuyên buộc anh Phạm Văn H phải nộp số tiền 500.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Tuyên buộc anh Hoàng Văn A phải nộp số tiền 600.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Tuyên buộc anh Vi Văn T phải nộp lại số tiền 2.200.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Tuyên tạm giữ để đảm bảo thi hành án: Số tiền 2.000.000 đồng của bị cáo Trần Bình T.

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Bình T bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Bản án được niêm yết tại địa phương, nơi cư trú./.

Cỡ chữ