vanban.org

Bản án 96/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Kim P.

Buộc chị Trần Thị Kim P và anh Triệu Quốc T có trách nhiệm trả cho bà Võ Thị Kim P số tiền 477.337.500 đồng ( Bốn trăm bảy mươi bảy triệu ba trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng). Thời gian trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Võ Thị Kim Phụng và Trần Thị Kim Phụng, Triệu Quốc Thuận"
  • Tòa quyết gì? Xử: [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Kim P.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2018/DS-ST
Ngày: 30/03/2018
V/v “ Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Cẩm Tiên;

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Bà Lê Thị Ngọc Ánh

+ Bà Nguyễn Thị Kim Hằng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Bà Lý Nguyễn Huyền Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 03 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 495/2017/TLST-DS ngày 23/11/2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2018/QĐXX- ST ngày 23 tháng 02 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 109/2018/QĐ-HPT ngày 12/03/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Võ Thị Kim P – sinh năm: 1963

Trú tại: 59A Ô 3, khu 2, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện ủy quyền: Nguyễn Thị Lệ H – sinh năm: 1950

Trú tại: ấp L, xã H, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Trần Thị Kim P – sinh năm: 1984

Triệu Quốc T – sinh năm: 1981

Trú tại: ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

( Bà H có mặt, anh T và chị P vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai bà Võ Thị Kim P trình bày: ngày 27/06/2017 bà có cho chị Trần Thị Kim P vay số tiền 350.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận lãi suất là 2%/ tháng. Khi vay chị P viết và ký tên vào biên nhận, hứa trong vòng hai tháng sẽ trả tiền cho bà. Đến ngày 27/07/2017 anh Triệu Quốc T là chồng chị P đến vay bà 100.000.000 đồng, cũng thỏa thuận lãi suất là 2%/ tháng. Anh T cộng số tiền chị P vay và số tiền anh T vay tổng cộng 450.000.000 đồng, anh T viết và ký tên vào biên nhận, hứa trong vòng một tháng sẽ trả tiền cho bà. Dì 4 trong biên nhận mà anh T và chị P ghi là tên thường gọi của bà. Bà yêu cầu anh T chị P trả tiền nhưng anh T chị P cố tình không trả.

Nay bà yêu cầu chị Trần Thị Kim Pvà anh Triệu Quốc T trả cho bà số tiền 450.000.000 đồng và tính lãi từ ngày 27/07/2017 đến khi xét xử. Trả 01 lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

* Bị đơn chị Trần Thị Kim P và anh Triệu Quốc T vắng mặt.

* Tại phiên tòa hôm nay:

- Đại diện ủy quyền của nguyên đơn Võ Thị Kim P là bà Nguyễn Thị Lệ H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của bà P, yêu cầu chị Trần Thị Kim P và anh Triệu Quốc T trả cho bà số tiền 450.000.000 đồng và tính lãi từ ngày 27/07/2017 đến khi xét xử. Trả 01 lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

- Bị đơn chị Trần Thị Kim P và anh Triệu Quốc T vắng mặt.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Từ khi thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự tuân thủ đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Anh Triệu Quốc T và chị Trần Thị Kim P có vay tiền của bà Võ Thị Kim P trên cơ sở biên nhận có chữ ký, chữ viết của anh T và chị P mà bà P cung cấp. Đến nay anh T chị P chưa trả tiền cho bà P nên bà P khởi kiện anh T chị P trả số tiền 450.000.000 đồng là có cơ sở. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra cũng như tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Võ Thị Kim P khởi kiện yêu cầu chị Trần Thị Kim P và anh Triệu Quốc T trả số tiền vay 450.000.000 đồng trên cơ sở biên nhận mượn tiền do anh T và chị P viết. Biên nhận là mượn nhưng bà P xác nhận là cho chị P và anh T vay với lãi suất là 2%/ tháng nên xác định đây là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015.

Bị đơn chị Trần Thị Kim P và anh Triệu Quốc T cư trú trên địa bàn huyện C nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn chị Trần Thị Kim P và anh Triệu Quốc T mặc dù được Tòa án tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị P và anh T theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Kim P, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bà P khởi kiện yêu cầu chị Trần Thị Kim P và anh Triệu Quốc T trả số tiền 450.000.000 đồng trên cơ sở là biên nhận được lập vào ngày 27/06/2017 có chữ ký và chữ viết của chị P cùng với biên nhận ngày 27/07/2017 có chữ ký và chữ viết của anh T được bà P cung cấp cho Tòa án.

Bà P cho rằng ngày 27/06/2017 chị Trần Thị Kim P vay của bà số tiền 350.000.000 đồng và đến ngày 27/07/2017 anh Triệu Quốc T vay tiếp 100.000.000 đồng cho nên khi viết biên nhận thì anh T cộng số tiền 350.000.000 đồng chị P vay trước đó thành số tiền nợ bà là 450.000.000 đồng.

Nội dung biên nhận anh T và chị P ghi là “…có mượn của Dì 4…” và “thiếu Dì 4…”. Theo biên bản xác minh tại công an Thị trấn C thì bà Võ Thị Kim P có tên thường gọi tại đại phương là Dì 4. Bà Võ Thị Kim P và Dì 4 là một người.

Đối với bị đơn chị Trần Thị Kim P và anh Triệu Quốc T vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án và cũng như tại phiên tòa hôm nay, anh T chị P cũng không đến Tòa, không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Kim P cũng như các tài liệu mà phía nguyên đơn cung cấp. Theo quy định tại khoản 2 điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 “ Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.

Do đó, phía bị đơn chị Trần Thị Kim P và anh Triệu Quốc T đã từ bỏ quyền chứng minh của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên có căn cứ xác định chị Trần Thị Kim P và anh Triệu Quốc T có vay của bà Võ Thị Kim P số tiền 450.000.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Kim P là có căn cứ chấp nhận, cần buộc chị Trần Thị Kim P và anh Triệu Quốc T có trách nhiệm trả cho bà P số tiền 450.000.000 đồng.

Về tiền lãi: Bà P yêu cầu tính lãi là phù hợp pháp luật. Tính lãi đối với số tiền 450.000.000 đồng từ ngày 27/07/2017 đến khi xét xử ngày 30/03/2018 là 08 tháng 03 ngày với mức lãi suất 0,75%/ tháng. Số tiền lãi là: 450.000.000 đồng x 0,75%/tháng x 08 tháng x 03 ngày = 27.337.500 đồng.

Tổng cộng vốn và lãi anh T chị P còn nợ bà P là 450.000.000 đồng + 27.337.500 đồng = 477.337.500 đồng.

Về thời gian trả: Bà P yêu cầu trả tiền ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét yêu cầu này là có cơ sở vì số tiền này chị P anh T để quá lâu đã ảnh hưởng đến quyền lợi của bà P nên cần buộc chị P anh T trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: chị P anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ các điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Kim P.

Buộc chị Trần Thị Kim P và anh Triệu Quốc T có trách nhiệm trả cho bà Võ Thị Kim P số tiền 477.337.500 đồng ( Bốn trăm bảy mươi bảy triệu ba trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Thời gian trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bà P có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị P anh T không chịu trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng chị P anh T còn phải trả số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng thời gian chậm thi hành án. Lãi suất phát sinh tiền chậm trả thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

[2] Về án phí:

- Chị Trần Thị Kim P và anh Trần Quốc T phải nộp 23.093.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn lại cho bà Võ Thị Kim P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.000.000 đồng theo biên lai số 36039 ngày 23/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo.

Các đương sự quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tính từ ngày nhận hoặc tống đạt bản án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.

Cỡ chữ