vanban.org

Bản án 96/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) K L.

Buộc bà Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) K L số tiền 12.576.500đ (Mười hai triệu năm trăm bảy sáu ngàn năm trăm đồng). Kể từ ngày Quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) K L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2018/DS-ST
Ngày: 14/11/2018
V/v “Tranh chấp về hợp
đồng dân sự vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Hữu Chinh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Phước Tâm

2. Bà Hồ Thị Mai Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Tú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Trong ngày 14/11/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 415/2018/TLST-DS, ngày 03 tháng 7 năm 2018 về việc “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 308A/2018/QĐXXST-DS ngày 12/10/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 213/2018/QĐST-DS ngày 29/10/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) K L. Địa chỉ: số 40 - 42 - 44 P H T, phường V T V, Tp R G, tỉnh Kiên Giang. Đại diện theo pháp luật: Bà T T A - Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Anh Ngô Văn Q - Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP K L – chi nhánh Đồng Tháp. Anh Q ủy quyền cho anh Lê Phước H, sinh năm 1981; chức vụ: Phó giám đốc; địa chỉ: số 30, đường L T K, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn:

Nguyễn Thị N, sinh năm 1968;

Địa chỉ: ấp 5, xã P T, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Tấn L, sinh năm 1992;

Địa chỉ: ấp 5, xã P T, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

(Anh H có mặt, bà N và anh L vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) K L trình bày: Ngày 15/12/2018, Ngân hàng TMCP K L có cho bà Nguyễn Thị N vay số tiền vốn là 10.000.000đ; thời hạn vay 03 tháng (trả góp và lãi theo định kỳ hàng ngày); mục đích vay mua bán nhỏ; lãi suất 1,245%/tháng, lãi quá hạn (chậm trả) là 1,8675%/tháng. Tuy nhiên, trong quá trình vay bà N không trả nợ đúng như thỏa thuận đã ký kết với Ngân hàng. Nay Ngân hàng TMCP K L khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng số tiền vốn vay là 7.168.500đ và số tiền lãi là 5.408.000đ, tổng cộng vốn và lãi là 12.576.500đ và yêu cầu tính lãi cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật mà bà N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay theo hợp đồng thế chấp số VC 01139/HĐTD –TC ngày 15/12/2016, để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng. Ngoài ra, Ngân hàng TMCP K L không yêu cầu gì thêm.

Đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Tấn L đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và triệu tập xét xử hợp lệ nhưng không có văn bản ý kiến, không tham gia hòa giải và không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:

- Tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp:

+ Giấy ủy quyền ngày 12/6/2018 (bản chính);

+ Bảng kê tính lãi theo hợp đồng (bản chính);

+ Hợp đồng tín dụng, kiêm hợp đồng cầm cố ngày 15/12/2016 (photo có dấu treo);

+ Giấy đề nghị vay vốn trả góp (photo có dấu treo);

+ Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (photo có dấu treo);

+ Biên bản thỏa thuận gửi giữ tài sản (photo có dấu treo);

+ Giấy CMND + sổ hộ khẩu gia đình chị N + anh L (photo có dấu treo);

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật, xét thấy: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn là bà Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ số tiền vốn vay là 7.168.500đ và số tiền lãi là 5.408.000đ (ngày 14/11/2018), tổng cộng vốn và lãi là 12.576.500đ và yêu cầu tính lãi cho đến khi thanh toán xong nợ, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự.

Về thẩm quyền, xét thấy: Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nơi cư trú tại xã P T, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp vụ án nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thời hiệu khởi kiện, xét thấy: Hợp đồng dân sự vay tài sản giữa Ngân hàng TMCP K L với bà N được xác lập vào ngày 15/12/2016 đến nay nguyên đơn khởi kiện là còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự.

Về tố tụng: Đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Tấn L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, tại phiên tòa đại diện Ngân hàng xác định trong vụ này ngoài số tiền trên thì Ngân hàng không tranh chấp số tiền nào khác và trong vụ án này chỉ liên quan đến các đương sự có tên trên, không liên quan đến đương sự nào khác.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xét thấy: Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP K L xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể Ngân hàng TMCP K L chỉ yêu cầu bà Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền vốn vay là 7.168.500đ và số tiền lãi là 5.408.000đ, tổng cộng vốn và lãi là 12.576.500đ và yêu cầu tính lãi cho đến khi thanh toán xong nợ (không yêu cầu anh L liên đới trả nợ); không yêu cầu xử lý tài sản đối với tài sản mà bà N đã cầm cố. Xét việc tự nguyện thay đổi yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K L là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với pháp luật nên chấp nhận.

Còn việc Ngân hàng TMCP K L khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền vốn vay là 7.168.500đ và số tiền lãi là 5.408.000đ, tổng cộng vốn và lãi là 12.576.500đ và yêu cầu tính lãi cho đến khi thanh toán xong nợ là có căn cứ, bởi lẽ: Vào ngày 15/12/2016, bà Nguyễn Thị N có làm hợp đồng vay tài sản với Ngân hàng TMCP K L với số tiền vốn vay là 10.000.000đ; thời hạn vay 03 tháng (trả góp và lãi theo định kỳ hàng ngày); mục đích vay là mua bán nhỏ; lãi suất 1,245%/tháng, lãi quá hạn (chậm trả) là 1,8675%/tháng. Sau khi vay thì bà N đã không thực hiện đúng như thỏa thuận hai bên đã ký kết và Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu bà N trả nợ nhưng bà N vẫn không thực hiện. Do đó, việc Ngân hàng TMCP K L khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị N trả số tiền vốn vay là 7.168.500đ và số tiền lãi là 5.408.000đ, tổng cộng vốn và lãi là 12.576.500đ là có căn cứ nên chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K L.

Tại phiên tòa, đại diện của Ngân hàng xác định ngoài lời trình bày và các chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra, thì Ngân hàng không còn chứng cứ nào khác và cũng không yêu cầu Tòa án thu thập thêm chứng cứ nào khác.

Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP K L về việc yêu cầu bà N trả số tiền vốn vay là 7.168.500đ và số tiền lãi là 5.408.000đ, tổng cộng vốn và lãi là 12.576.500đ nên bà N phải chịu 628.500đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

+ Ngân hàng TMCP K L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, Ngân hàng được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai số 0000385 ngày 28/6//2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 429, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) K L.

- Buộc bà Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) K L số tiền 12.576.500đ (Mười hai triệu năm trăm bảy sáu ngàn năm trăm đồng).

Kể từ ngày Quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

- Về án phí: Bà Nguyễn Thị N phải chịu 628.500đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

+ Ngân hàng TMCP K L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, Ngân hàng được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai số 0000385 ngày 28/6//2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.

- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ