vanban.org

Bản án 959/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Trương Quốc T.

Về quan hệ hôn nhân: ông Trương Quốc T được ly hôn với bà Võ Thị Bích T1. Giấy chứng nhận kết hôn số 215, quyển số 02/2015 do Ủy ban nhân dân xã X, huyện Hóc Môn, Th nh phố Hồ Ch Minh cấp ngày 11 tháng 11 năm 2015 không còn giá trị pháp lý. Về con chung: ông T và bà T1 xác định không có.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Quốc T và Võ Thị Bích T1"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Trương Quốc T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 959/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15/7/2022
V/v: Tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN TH NH H H CH MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đo n Thị Thanh Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. B Nguyễn Thị Tịnh Tâm.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

Thư ký phiên tòa: Ông Ung Tuấn Kiệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Th nh phố Hồ Ch Minh.

Ngày 15 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 510/2021/TLST-HNGĐ ng y 11 tháng 5 năm 2021 về việc “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2022 v Quyết định hoãn phien tòa số 132/2022/QĐST – HNGĐ ng y 22 tháng 6 năm 2022, giữa:

- Nguyên đơn: ông Trương Quốc T, sinh năm 1987.

Thường trú: Tổ 9, khu phố 5, phường A, thị xã B, tỉnh C (xin vắng mặt).

- Người bảo vệ quyền v lợi ch hợp pháp cho nguyên đơn: ông Từ Ngọc Trấn Đ, sinh năm 1991 l luật sư thuộc Văn phòng luật sư Nguyễn Minh T2 - Đo n luật sư Th nh phố Hồ Ch Minh (có mặt).

- Bị đơn: bà Võ Thị B ch T1, sinh năm 1986.

Thường trú: 138/5D ấp 5, xã X, huyện Hóc Môn, Th nh phố Hồ Ch Minh (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Võ Thanh G, sinh năm 1954.

Thường trú: 138/5D ấp 5, xã X, huyện Hóc Môn, Th nh phố Hồ Ch Minh (xin vắng mặt).

2. Bà Dương Thị N, sinh năm 1958.

Thường trú: 138/5D ấp 5, xã X, huyện Hóc Môn, Th nh phố Hồ Ch Minh (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn xin ly hôn ngày 29/3/2021 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trương Quốc T trình bày:

Ông và bà Võ Thị B ch T1 tự nguyện chung sống với nhau, hai bên có đăng ký kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Hóc Môn, Th nh phố Hồ Ch Minh.

Thời gian đầu hai bên sống hạnh phúc. Từ năm 2020, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nhiều lần h n gắn nhưng không được khiến cuộc sống vợ chồng mất hạnh phúc nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Võ Thị B ch T1.

Về con chung: không có.

Về t i sản chung: không có.

Về nghĩa vụ dân sự chung: không có.

Các t i liệu, chứng cứ m nguyên đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ch hợp pháp của mình gồm: Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn, bản sao chứng minh nhân dân v hộ khẩu của ông T.

Tại bản tự khai ngày 02/11/2021 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án,, bị đơn bà Võ Thị Bích T1 trình bày:

Bà và ông T tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn đúng như ông T trình bày. Sau khi kết hôn b sống tại gia đình nh chồng đến năm 2017 thì bà và ông T về lại nh riêng được ba mẹ bà T1 tặng chưa sang tên tại địa chỉ 138/5K, ấp 5, xã X, huyện Hóc Môn, Th nh phố Hồ Ch Minh diện t ch 87,3 m2 để sống. Sau một thời gian sống ở đây do nợ nần nên bà T1 bán nh với giá 1.500.000.000 (một tỉ năm trăm triệu) đồng để trả nợ v cùng ông T về quê của ông T tại tỉnh C sinh sống. Thời gian chung sống vợ chồng cũng không mấy hạnh phúc do ông T ham mê cờ bạc, uống rượu v thường đánh đập b nên bà đã bỏ về nh cha mẹ ruột sống từ đầu năm 2020 đến nay. Khoảng giữa năm 2020, b có nộp đơn ly hôn với ông T tại Tòa án thị xã B nhưng do dịch bệnh Covid – 19 nên không thể đi lại được v b đã hủy bỏ hồ sơ. Nay ông T yêu cầu ly hôn với b tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn thì bà T1 không đồng ý ly hôn vì ông T vẫn còn nợ tiền cha mẹ b chưa trả.

- Về con chung: không có.

- Về t i sản chung: tại bản tự khai ng y 02/11/2021, bà T1 khai vợ chồng b có t i sản chung l căn nh do cha mẹ ruột b cho nhưng chưa sang tên, vợ chồng b đã bán với giá 1.500.000.000 (một tỉ năm trăm triệu) đồng. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án tại các phiên hòa giải ng y 26/5/2022 v ngày 03/6/2022, bà T1 xác định t i sản chung không có.

- Về nợ chung: vợ chồng b có nợ cha mẹ ruột b l ông Võ Thanh G và bà Dương Thị N số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 03/6/2022, biên bản hòa giải và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị N và ông Võ Thanh G trình bày:

Ông bà là cha mẹ ruột của Võ Thị B ch T1, trước đây ông bà có cho hai con Tuấn, Trâm mượn số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng để l m ăn v không lập giấy tờ ký nhận gì. Nay, hai con T, T1 ly hôn, ông b xác định không yêu cầu T và T1 phải trả nợ cho ông b vì ông b không có chứng cứ gì để chứng minh. Tuy nhiên, nếu các con T, T1 có suy nghĩ lại v trả tiền thì ông b vẫn đồng ý nhận tiền.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn - Luật sư Từ Ngọc Trấn Đ trình bày:

Căn cứ lời khai của ông T và bà T1 trong suốt quá trình giải quyết vụ án, thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và bà T1 l có xảy ra v đã thực sự trầm trọng; bằng chứng l sau thời gian chung sống do vợ chồng không có tiếng nói chung v thường xuyên tranh cải, mất hạnh phúc nên bà T1 đã bỏ về nh cha mẹ ruột sống tại huyện Hóc Môn từ năm 2020, còn ông T vẫn sống tại phường A, thị xã B, tỉnh C. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T l được ly hôn với bà T1. Về con chung v t i sản chung, ông T và bà T1 cùng xác nhận không có. Về nợ chung, do ông G v b N không có yêu cầu tranh chấp số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét nhưng vẫn d nh quyền khởi kiện cho ông G v b N khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các t i liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ pháp luật tranh chấp v thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ đơn khởi kiện của ông Trương Quốc T xác định quan hệ pháp luật trong vụ án l tranh chấp về hôn nhân v gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn bà Võ Thị B ch T1 hiện đang cư ngụ tại xã X, huyện Hóc Môn, Th nh phố Hồ Ch Minh. Do vậy, To án nhân dân huyện Hóc Môn thụ lý giải quyết l đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trương Quốc T và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan l ông Võ Thanh G, bà Dương Thị N có đơn xin vắng mặt. Bị đơn b Võ Thị B ch T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông T, ông Gươm, b Nhớ, bà T1 theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 l có cơ sở.

Nội dung vụ án:

- Về quan hệ vợ chồng: ông Trương Quốc T và bà Võ Thị B ch T1 tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn v đã được Ủy ban nhân dân xã X, huyện Hóc Môn, Th nh phố Hồ Ch Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 215, quyển số 02/2015 ngày 11 tháng 11 năm 2015, đây l hôn nhân hợp pháp.

Mâu thuẫn vợ chồng theo lời trình b y của ông T phát sinh từ năm 2020 do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã nhau, bà T1 đã bỏ về nh cha mẹ ruột sống từ năm 2020 đến nay. Thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng ng y c ng nghiêm trọng, không thể h n gắn được, mục đ ch hôn nhân giữa hai vợ chồng l không đạt được nên ông T yêu cầu được ly hôn với bà Võ Thị B ch T1. Về ph a bà T1, bà cũng thừa nhận cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc do ông T ham mê cờ bạc, rượu chè v thường xuyên đánh đập b nên b đã bỏ về nh cha mẹ ruột sống từ năm 2020 đến nay. Tuy nhiên, trước yêu cầu xin ly hôn của ông T thì bà T1 không đồng ý ly hôn do ông T vẫn còn nợ tiền của cha mẹ ruột b . Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và bà T1 l có xảy ra v đã thật sự trầm trọng, ông T và bà T1 đã không còn chung sống từ năm 2020 đến nay, mục đ ch hôn nhân không đạt được. Mặc dù bà T1 không đồng ý ly hôn với ông T nhưng lý do bà T1 đưa ra l vì ông T còn nợ tiền cha mẹ ruột của bà T1 b chứ không phải vì muốn h n gắn tình cảm vợ chồng với ông T l chưa phù hợp. Do vậy, cần căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân v gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông T l ho n to n có cơ sở.

- Về con chung: ông T và bà T1 khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về t i sản chung: ông T và bà T1 khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nghĩa vụ dân sự chung: ông T xác định không có, bà T1 khai ông T còn nợ tiền cha mẹ b là bà Dương Thị N và ông Võ Thanh G. Bà Dương Thị N và ông Võ Thanh G khai có cho ông T và bà T1 vay số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng nhưng không có t i liệu, chứng cứ gì chứng minh; đồng thời ông G, bà N xác định không yêu cầu ông T và bà T1 phải trả nợ cho ông b nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, vẫn d nh quyền khởi kiện cho ông G v b N khi có yêu cầu đòi lại số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng.

Xét đề nghị của người bảo vệ quyền v lợi ch hợp pháp của nguyên đơn phù hợp với những nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án ph dân sự sơ thẩm: cần buộc ông T phải chịu án ph dân sự sơ thẩm về việc ly hôn l 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147, Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Luật ph v Lệ ph Tòa án và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án ph , lệ ph Tòa án l có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 150; khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân v Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Luật ph v Lệ ph Tòa án và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án ph , lệ ph Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Trương Quốc T.

- Về quan hệ hôn nhân: ông Trương Quốc T được ly hôn với bà Võ Thị Bích T1. Giấy chứng nhận kết hôn số 215, quyển số 02/2015 do Ủy ban nhân dân xã X, huyện Hóc Môn, Th nh phố Hồ Ch Minh cấp ngày 11 tháng 11 năm 2015 không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: ông T và bà T1 xác định không có.

- Về t i sản chung: ông T và bà T1 xác định không có.

- Về nghĩa vụ dân sự chung: không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

D nh quyền khởi kiện cho ông Võ Thanh G và bà Dương Thị N khi có yêu cầu đối với số tiền nợ 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng.

Án ph dân sự sơ thẩm: án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) buộc ông Trương Quốc T phải chịu nhưng được trừ v o số tiền tạm ứng án ph ông T đã nộp l 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0075094 ngày 11/5/2021 của Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Hóc Môn. Ông T đã nộp đủ án ph .

Thi h nh tại cơ quan Thi h nh án dân sự có thẩm quyền.

Đương sự có quyền l m đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ng y kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án m có lý do ch nh đáng thì thời hạn thì thời hạn kháng cáo t nh từ ng y nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Nơi Nhận:

Cỡ chữ