- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng N-H Y - Jui"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng N.
- Căn cứ chính? Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 955/2019/HNGĐ-ST Ngày: 09/8/2019. V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Phan Thị Minh Nguyệt.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Lê Thị Nhung
2/ Ông Nguyễn Thành Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Vân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 151/2018/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1191/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 2564/2019/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2019 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3375/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Đường A, phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông H Y - Jui, sinh năm 1988.
Quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan).
Địa chỉ: Đường P, phường Q, thành phố Đài Nam, Đài Loan.
(Đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 02/4/2018, bản tự khai ngày 08/5/2018 nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng N trình bày:
Bà và ông H Y - Jui tự nguyện kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 63 do Ủy ban nhân dân Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/6/2017. Sau khi kết hôn, ông H Y - Jui quay về Đài Loan sinh sống và làm việc, giữa bà và ông H Y - Jui ít có thời gian liên lạc, phát sinh những mâu thuẫn không thể hàn gắn do bất đồng ngôn ngữ. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H Y - Jui để có điều kiện ổn định cuộc sống.
Con chung: Bà Nguyễn Thị Hồng N khai không có.
Tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Hồng N khai không có.
Ngày 28/6/2018, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có công văn số 399/UTTPDS- TA30 về thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp gửi Bộ Tư pháp yêu cầu cơ quan có thẩm quyền Đài Loan thông báo việc thụ lý vụ án, tiến hành lấy lời khai và thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ nhất vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 09 tháng 01 năm 2019, lần thứ hai vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 24 tháng 01 năm 2019 và xét xử công khai lần thứ nhất vào lúc 8 giờ 00 phút ngày 02 tháng 4 năm 2019; lần thứ hai vào lúc 8 giờ 00 phút ngày 15 tháng 4 năm 2019 đối với ông H Y - Jui. Trường hợp Tòa án không nhận được văn bản thông báo về kết quả tống đạt cũng như lời khai, tài liệu chứng cứ của ông và đến ngày mở phiên tòa ông không có mặt, không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt thì Tòa án sẽ mở lại phiên tòa vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 09 tháng 8 năm 2019.
Ngày 30/8/2018, Bộ Tư pháp đã có công văn số 2221/CH-BTP về việc thực hiện ủy thác tư pháp theo đó, đề nghị Bộ Tư pháp Lãnh thổ Đài Loan thực hiện ủy thác tư pháp đối với ông H Y - Jui.
Ngày 05/12/2018, Bộ Tư pháp đã có công văn số 3691/BTP-PLQT thông báo kết quả ủy thác tư pháp đối với ông H Y - Jui. Theo đó, Cơ quan có thẩm quyền của Lãnh thổ Đài Loan đã thực hiện ủy thác nêu trên vào ngày 05/11/2018 bằng phương thức: Tống đạt hồ sơ trực tiếp cho đương sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Ngày 27/12/2018, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng N có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ án, hòa giải và xét xử vì lý do bận công việc.
Bị đơn ông H Y - Jui đã được Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành ủy thác tư pháp để tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng ông Huang Yi - Jui không có văn bản trả lời và vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán chủ tọa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về “Nguyên tắc xét xử, thành phần hội đồng xét xử, sự có mặt của các thành viên trong hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa; Phạm vi xét xử sơ thẩm” tại phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn với ông H Y - Jui.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Xét yêu cầu của nguyên đơn thuộc tranh chấp về ly hôn, bị đơn ông H Y - Jui đang cư trú hợp pháp tại Đài Loan (Trung Quốc) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về vắng mặt đương sự: Xét bà Nguyễn Thị Hồng N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Ông H Y - Jui đã được Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành ủy thác tư pháp thông báo thời gian xét xử nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông H Y - Jui, bà Nguyễn Thị Hồng N theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Hồng N, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 63 do Ủy ban nhân dân Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/6/2017 có đủ cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Hồng N và ông H Y - Jui là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, theo lời khai của bà Nhẫn thì sau khi kết hôn ông H Y
- Jui quay về Đài Loan sinh sống và làm việc, giữa bà và ông H Y - Jui có ít thời gian liên lạc, phát sinh những mâu thuẫn không thể hàn gắn Xét thấy vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau san sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; nghĩa vụ sống cùng với nhau trong khi hai vợ chồng bà Nhẫn và ông H Y - Jui mỗi người một nơi, tình cảm vợ chồng càng không có điều kiện vun đắp. Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp thông báo ngày giờ xét xử nhưng ông H Y - Jui vẫn không có mặt, không có văn bản trả lời, chứng tỏ ông H Y - Jui không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này có căn cứ về việc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nhẫn tuyên bà Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn với ông H Y- Jui như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Con chung: Bà Nguyễn Thị Hồng N khai không có.
Tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Hồng N khai không có.
[3] Án phí, chi phí tố tụng khác:
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Nguyễn Thị Hồng N phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, Khoản 4 Điều 147, Điểm b Khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Khoản 1 Điều 273; Điều 464; điểm d Khoản 1, Khoản 2 Điều 469, điểm a Khoản 5 Điều 477, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 53, Điều 54, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng N.
Quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn với ông H Y - Jui.
Giấy chứng nhận kết hôn số 63 do Ủy ban nhân dân Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/6/2017 cho bà Nguyễn Thị Hồng N và ông H Y - Jui không còn giá trị pháp lý.
Con chung: Không có.
Tài sản chung, nợ chung: Không có.
2/ Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng N phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0044221 ngày 12/4/2018 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3/ Án xử sơ thẩm, thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bà Nguyễn Thị Hồng N nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Đối với ông H Y - Jui thời hạn kháng cáo bản án là 01 (Một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Tối cao; - Tòa án nhân dân Cấp cao tại TP. HCM; - Viện kiểm sát Cấp cao tại TP. HCM; - Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM; - Cục Thi hành án dân sự TP. HCM; - Ủy ban nhân dân Quận 7, TP.HCM; - Đương sự; - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Phan Thị Minh Nguyệt |