vanban.org

Bản án 952/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Sơn Thị N và anh Phạm Hồng Thanh P

Về nuôi con chung: Giao con chung tên Phạm Hồng Minh P, sinh ngày 08/11/2006 cho chị Sơn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh P cho đến khi có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Sơn Thị N và anh Phạm Hồng Thanh P
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
́
̀
THÀ NH PHÔ HÔ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ban an số : 952/2017/HNGĐ-ST
̉ ́
Ngày : 15/8/2017
V/v : Tranh chấp ly hôn giữa chi ̣ N và
anh P

NHÂN DANH

NƯỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ

́

̀

TÒ A Á N NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀ NH PHÔ HÔ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Ngọc Trình

2. Bà Cao Ngọc Xuân

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Duy Minh Chính – Thư ký của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chi Minh

́ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ngon – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 418/2017/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 4 năm 2017, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/7/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2017/QĐST-HNGĐ ngày 28/7/2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Sơn Thị N, sinh năm 1985

Nơi cư trú: Số 171/24 đườ ng N, Phường M, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Anh Phạm Hồng Thanh P, sinh năm 1986

Nơi cư trú: Số 171/24 đườ ng N, Phường M, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/3/2017 cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, nguyên đơn chị Sơn Thị N trình bày:

Chị N và anh Phạm Hồng Thanh P chung sống vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường M, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số XX, quyển số 01/2009, đăng ký ngày Y/Z/2009. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do anh P thiếu sự quan tâm chăm sóc cho gia đình, dù đã cố gắng hòa giải nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không còn sự chia sẻ và tôn trọng nhau, cuộc sống gia đình không có hạnh phúc. Hai bên đã ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Do đó, chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị N được ly hôn anh P. Về con chung: Có 01 con chung tên Phạm Hồng Minh P, sinh ngày 08/11/2006, chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Chị N tự khai không có tài sản chung và không nợ gì của ai.

Bị đơn anh Phạm Hồng Thanh P đã được triệu tập hợp lê ̣ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi được lời khai, không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án và xét xử, Tòa án đã chấp hành đúng các qui định của pháp luật về tố tụng dân sự, về thời hạn xét xử đảm bảo theo quy định của pháp luật, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Sơn Thị N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Anh Phạm Hồng Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để hòa giải mà vẫn cố tình vắng mặt. Do vậy, theo quy định tại Điều 207 của Bộ Luật tố tụng Dân sự, vụ án không thể tiến hành hòa giải được.

Anh P đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập dự phiên tòa xét xử đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh P theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng Dân sự.

Nguyên đơn chị Sơn Thị N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 Bộ Luật tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Sơn Thị N thì đây là tranh chấp ly hôn theo yêu cầu một bên, do bị đơn là anh Phạm Hồng Thanh P có nơi cư trú tại Quận 8 nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8 theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ Luật tố tụng Dân sự.

Về các yêu cầu của đương sự:

Chị Sơn Thị N và anh Phạm Hồng Thanh P chung sống với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường M, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số XX, quyển số 01/2009, đăng ký ngày Y/Z/2009, nên xét đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của chị N, chị N trình bày trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do ông P thiếu sự quan tâm chăm sóc cho gia đình, dù đã cố gắng hòa giải nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không còn sự chia sẻ và tôn trọng nhau, cuộc sống gia đình không có hạnh phúc. Hai bên đã tự không sống chung từ năm 2015. Tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị N yêu cầu được ly hôn. Căn cứ Điều 51 Luật Hôn Nhân và Gia Đình, yêu cầu của chị N là có căn cứ cần giải quyết. Xét thấy anh P đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến Tòa để tạo điều kiện cho hai bên hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng anh P vẫn vắng mặt và cũng không có mặt tại phiên tòa xét xử, điều này thể hiện anh P không còn tha thiết đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, tình cảm vợ chồng giữa chị N và anh P không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã phát sinh trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được, nên yêu cầu ly hôn của chị N cần chấp nhận vì phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị N và anh P có 01 con chung tên Phạm Hồng Minh P, sinh ngày 08/11/2006, hiện chị N đang nuôi dưỡng. Chị N có yêu cầu xin được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con, xét yêu cầu này là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn Nhân và Gia Đình mă ̣t khác cũng phù hợp vớ i nguyê ̣n vo ̣ng của con chung nên chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự tự khai không có tài sản chung và không có nợ gì của ai, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ y ban Thương vu ̣ Quốc

̀ hô ̣i quy đi ̣nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử du ̣ng án phi và lê ̣ pi

́

́ Tòa án chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 8, 9, 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 207, Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ y ban Thường vụ Quốc hội quy đi ̣nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Sơn Thị N và anh Phạm Hồng Thanh P

2. Về nuôi con chung:

Giao con chung tên Phạm Hồng Minh P, sinh ngày 08/11/2006 cho chị Sơn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh P cho đến khi có yêu cầu.

Anh P có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.

Vì lợi ích của trẻ, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ: Đương sự tự khai không có tài sản chung và không có nợ gì của ai, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), chị Sơn Thị N phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0027096 ngày 04/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8 Thành phố Hồ Chí Minh. Chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Chị N và anh P có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mườ i lăm) ngày tính kể từ ngày bản án được giao cho chị N và anh P hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự; Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

̀

̉

TM. HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ SƠ THÂM

Cỡ chữ