- Tranh chấp gì? "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| Toµ ¸n nh©n d©n HuyÖn hoµi ®øc - hµ néi --------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 95/2018/HSST |
Ngµy: 23/10/2018
Nh©n danh
N íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn hoµi ®øc - TP hµ néi
Víi thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã ThÈm ph¸n-Chñ to¹ phiªn toµ:
¤ng Tr ¬ng Thµnh Tr C¸c héi thÈm nh©n d©n: 1. Ông Trần M Kh, Giáo viên 2. Ông Nguyễn Văn H, Giáo viên Th ký phiªn toµ: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Ng §¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn HĐtham gia phiªn toµ: Bà Trần Thị L, KSV
Ngày 23 tháng 10 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện HĐ, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 103/2018/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử 103/2018/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Danh V; Sinh ngày: 01/5/2002; HKTT: Thôn TT, xã ĐT, huyện HĐ, thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: Thôn TT, xã SP, huyện ĐP, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Nguyễn Anh T và bà Nguyễn Thị Ng; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tạm giữ từ ngày 26/6/2018 – ngày 29/6/2018 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa;
Người đại diện theo pháp luật:
Chị Nguyễn Thị Ng, Sinh năm 1983, Anh Nguyễn Anh T, Sinh năm 1974 (bố mẹ bị cáo) Có mặt tại phiên tòa;
Cùng địa chỉ: thôn TT, xã ĐT, huyện HĐ, thành phố Hà Nội.
Người bào chữa:
Bà Nguyễn Thị V, Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý
thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- 1 -
Chị Nguyễn Thị Ng, Sinh năm 1983.
Địa chỉ: thôn TT, xã ĐT, huyện HĐ, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa;
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 26/6/2018, Nguyễn Danh V điều khiển xe máy nhãn hiệu Wave Biển kiểm soát 29X3-336.46 đến quán café 123 thuộc xã SP, huyện ĐP, thành phố Hà Nội để uống nước. Tại đây, V gặp một người bạn tên thường gọi là “S” (không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể). Do nghiện ma túy nên cả hai rủ nhau đi mua ma túy về để sử dụng (Bút lục số 49-52), Tiền mua ma túy do “S” bỏ ra. Sau đó, “S” điều khiển xe máy Wave biển kiểm soát 29X3-336.46 chở V đến khu vực thôn LX, xã KC, huyện HĐ để mua ma túy. Tại đây, “S” gặp một người đàn ông khoảng 40-45 tuổi, cao khoảng 1m65, dáng người gầy, tóc để dài (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể), hỏi mua ma túy đá và đưa 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) cho người đàn ông này. Sau đó, “S” bảo V đi bộ ra cổng nghĩa trang liệt sỹ xã KC lấy túi ma túy đã được cất giấu tại vị trí giữa cổng nghĩa trang liệt sỹ. Khi V vừa lấy được túi ma túy, cầm trên tay trái, đi được một đoạn ra phía đường Quốc lộ 32 thì bị Công an huyện HĐ phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật. Còn “S” điều khiển xe máy Wave biển kiểm soát 29X3-336.46 bỏ chạy (Bút lục số 37-41; 52-58; 61-64;108-115).
Tại Bản kết luận giám định số 5751B/KLGĐ-PC54 ngày 05/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,665gam (một phẩy sáu trăm sáu mươi lăm gam) (Bút lục số 27).
Đối với người thanh niên thường gọi là “S” và người nam giới đã bán ma túy cho Nguyễn Danh V ngày 26/6/2018 tại khu vực nghĩa trang liệt sỹ xã KC thuộc thôn LX, xã KC, huyện HĐ, thành phố Hà Nội, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa xác định được là đối tượng nào. Vì vậy, cơ quan CSĐT tiếp tục xác minh, khi nào rõ sẽ xử lý sau. §èi víi chiếc xe máy nhãn hiệu Wave Biển kiểm soát 29X3-336.46: Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên thuộc quyền sở hữu của chị Nguyễn Thị Ng (Bút lục số 100-105). Chị Ng và anh Trịnh Văn M không biết việc Nguyễn Danh V và “S” sử dụng chiếc xe máy trên để đi mua ma túy nên không có cơ sở để xem xét, xử lý (Bút lục số 88-92; 106-107).
- 2 -
Tại Bản cáo trạng số 103/CT-VKS ngày 02 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Danh V về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c, khoản 1, điều 249 Bộ luật hình sự năm. Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c, khoản 1, điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38, 91, 101 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố Nguyễn Danh V phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt: Nguyễn Danh V 12 - 15 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX Áp dụng điểm c, khoản 1, điều 249; điểm s, h khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 91, 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo dưới 12 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 14 giờ 00 phút ngày 26/6/2018, tại thôn LX, xã KC, huyện HĐ, thành phố Hà Nội, Nguyễn Danh V đang có hành vi tàng trữ 1,665gam (một phẩy sáu trăm sáu mươi lăm gam) chất ma túy loại Methamphetamine để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an huyện HĐ phát hiện và bắt quả tang. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Danh V phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thấy rằng. Tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, ông nội bị cáo là người có công với cách mạng,đó là tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Do vậy, phải có hình phạt tù đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là vị thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong được dán kín của Công an thành phố Hà Nội. Mặt trước phong bì niêm phong ghi tên đối tượng Nguyễn Danh V, Sinh ngày 01/5/2002, HKTT: thôn TT, xã ĐT, huyện HĐ, thành phố Hà Nội. Mặt sau, tại các mép dán phong bì niêm phong còn nguyên vẹn chữ ký,
- 3 -
họ tên của giám định viên Nguyễn Hoàng Hùng, đối tượng Nguyễn Danh V và người giám hộ Nguyễn Thị Ng, ngày niêm phong 26/6/2018 là chất cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
01 (một) chiếc điện thoại di động OPPO F1S màu trắng hồng, đã qua sử dụng, bên trong có gắn thẻ sim số 0965548715 và 01275552202; số IMEI 1: 863069038424553; số IMEI 2: 863069038424546 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Wave Biển kiểm soát 29X3-336.46, màu trắng - đen, số khung 3905HY060990; số máy JA39E0061062 là tài sản riêng của chị Nguyễn Thị Ng, chị Ng không biết việc Nguyễn Danh V (Vượng) sử dụng vào hành vi phạm tội nên trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều là chứng cứ hợp pháp.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố vụ án đúng quy định.
Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án phản ánh cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX thấy không có dấu hiệu vi phạm nên không kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm.
Vì các lẽ trên,
QuyÕt ®Þnh
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Danh V ph¹m téi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về điều luật áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38, điều 91, khoản 1 điều 101 Bộ luật hình sự.
Xö ph¹t: Nguyễn Danh V 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tÝnh tõ ngµy b¾t đi thi hành án phạt tù, được trữ những ngày đã tạm giữ 26/6/2018 đến ngày 29/6/2018.
Xử lý vật chứng: ¸p dông ®iÒu 47 Bé luËt h×nh sù năm 2015 söa ®æi bæ sung n¨m 2017.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong được dán kín của Công an thành phố Hà Nội. Mặt trước phong bì niêm phong ghi tên đối tượng Nguyễn
- 4 -
Danh V, Sinh ngày 01/5/2002, HKTT: Thôn TT, xã ĐT, huyện HĐ, thành phố Hà Nội. Mặt sau, tại các mép dán phong bì niêm phong còn nguyên vẹn chữ ký, họ tên của giám định viên Nguyễn Hoàng Hùng, đối tượng Nguyễn Danh V và người giám hộ Nguyễn Thị Ng, ngày niêm phong 26/6/2018.
Trả lại cho Nguyễn Danh V 01 (một) chiếc điện thoại di động OPPO F1S màu trắng hồng, đã qua sử dụng, bên trong có gắn thẻ sim số 0965548715 và 01275552202; số IMEI 1: 863069038424553; số IMEI 2: 863069038424546.
Trả lại cho chị Nguyễn Thị Ng 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Wave Biển kiểm soát 29X3-336.46, màu trắng - đen, số khung 3905HY060990; số máy JA39E0061062. (theo biên bản giao nhận vật chứng giữ Chi cục thi hành án dân sự huyện HĐ với Công an huyện HĐ ngày 08/10/2018)
VÒ ¸n phÝ: Áp dụng khoản 1, 2 điều 135; khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 điều 22 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Danh V phải chịu 200.000đ án phí hình sự sở thẩm.
C¨n cø §iÒu 331, 333 cña Bé luËt tè tông h×nh sù:
BÞ c¸o, chị Ng, anh T, người bào chữa ®ưîc quyÒn kh¸ng c¸o bản án này trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n sơ thẩm. Nơi gửi:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -Toà án TP Hà Nội
| -VKS huyện Hoài Đức - Chi cục THADS huyện Hoài Đức - Dán án - Lưu hồ sơ | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trương Thành Tr - 5 - |