vanban.org

Bản án 95/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 14/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Cầm Văn Kh phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Cầm Văn Kh 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2025 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 95/2025/HS-ST
Ngày 14 tháng 5 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SM , TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Mai.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Quân và ông Đinh Văn Kiên

- Thư ký phiên toà: bà Lý Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện SM , tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện SM tham gia phiên toà: ông Quàng Văn Cuộc – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện SM , Toà án nhân dân huyện SM , tỉnh Sơn La xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2025/TLST-HS ngày 25/4/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐXXST-HS ngày 29/4/2025 đối với bị cáo:

Cầm Văn Kh; tên gọi khác: không, 10/12/1983 tại huyện SM , tỉnh Sơn La; nơi cư trú: bản H , xã MH , huyện SM , Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông: Cầm Văn Ng, sinh năm 1951 và bà Lường Thị L, sinh năm 1958; Vợ là Cầm Thị Y– Sinh năm 1985 ( Đã ly hôn) và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 07/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện SM áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, chấp hành xong ngày 07/9/2019 (đã được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính). Ngày 24/7/2020 bị TAND huyện SM tuyên phạt 24 tháng cải tạo không giam giữ về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, chấp hành xong ngày 23/12/2021 (đã xóa án tích); bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/02/2025 đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 06 giờ 50 phút ngày 06/02/2025, tại bản H, xã MH, huyện S, tỉnh Sơn La, tổ công tác của Công an xã MH đã phát hiện, bắt quả tang Cầm Văn Kh có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm 01 gói nilon màu vàng xanh, bên trong có chứa 10 viên nén màu hồng.

Ngày 06/02/2025, tại Cơ quan CSĐT Công an huyện SM đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Khụt, kết quả: 10 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,92 gam. Trích 02 viên có tổng khối lượng 0,18 gam làm mẫu giám định ký hiệu N. Còn lại 08 viên có tổng khối lượng 0,74 gam cho vào 01 túi Nilon màu vàng xanh ban đầu làm vật chứng lưu kho kí hiệu L.

Kết luận giám định số: 336/KL-KTHS ngày 10/02/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La. Kết luận:

“- Mẫu ký hiệu N gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,18 gam.

- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,92 gam, loại Methamphetamine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”(BL số: 25-26).

Quá trình điều tra Cầm Văn Kh khai nhận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 05/02/2025 Cầm Văn Kh đi bộ một mình từ nhà tại bản H , xã MH , huyện SM đến khu vực đường tuần tra biên giới thuộc bản H , MH để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Khụt đến khu vực đường tuần tra biên giới thì gặp 01 người đàn ông dân tộc Thái quốc tịch Lào không quen biết đang đi tìm bắn chuột. Thấy vậy, Khụt hỏi mua viên Hồng phiến thì người này nói có bán, Khụt đưa cho người này số tiền 100.000 đồng , người đàn ông nhận tiền rồi đưa cho Khụt 01 gói nilon màu vàng xanh bên trong chứa 10 viên Hồng phiến, Khụt cầm lấy cất vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà ngủ. Đến khoảng 06 giờ 50 phút ngày 06/02/2025, thì tổ công tác Công an xã MH đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, tạm giữ người và thu giữ vật chứng

Tại bản cáo trạng số: 70/CT-VKS ngày 22/4/2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện SM đã truy tố bị cáo Cầm Văn Kh về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Cầm Văn Kh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện SM trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Cầm Văn Kh phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Cầm Văn Kh từ 24 tháng đến 28 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) Phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành đã được niêm phong kín. Trong phong bì gồm: 01 túi nilon màu vàng xanh chứa vật chứng ký hiệu L = 0,74 gam là Methamphetamine và 01 vỏ phong bì thư niêm phong ban đầu đã bóc mở.

Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với phần luận tội của kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện SM , điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện SM , kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện SM , không thay đổi, bổ sung nội dung gì, hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện SM . Bị cáo khẳng định khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 06/02/2025; Kết luận giám định số 336/KL-KTHS ngày 10/02/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội; Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ.

Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: 06 giờ 55 phút ngày 06/02/2025 tại bản H , xã MH , huyện SM , tỉnh Sơn La, Cầm Văn Kh có hành vi cất giữ trái phép 0,92 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của Cầm Văn Kh đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng số: 70/CT-VKS ngày 22/4/2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện SM là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, biết rõ chất ma túy là chất Nhà nước cấm mua bán, sử dụng, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 07/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện SM áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, chấp hành xong ngày 07/9/2019 (đã được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính). Ngày 24/7/2020 bị TAND huyện SM tuyên phạt 24 tháng cải tạo không giam giữ về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, chấp hành xong ngày 23/12/2021 (đã xóa án tích).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, tại phiên tòa tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm, nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.

Từ sự phân tích trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác minh xét thấy, bị cáo không có tài sản có giá trị, thu nhập không ổn định, là đối tượng nghiện ma tuý. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung.

Vật chứng vụ án:

Đối với 0,74 gam Methamphetamine, ký hiệu L và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở là vật nhà nước cấm tàng trữ; công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội và không sử dụng được cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Các vấn đề khác:

Về nguồn gốc ma túy: Cầm Văn Kh khai đã mua ma túy của một người đàn ông dân tộc Thái, quốc tịch Lào không quen biết trên đường tuần tra biên giới thuộc bản H , xã MH , SM vào ngày 05/02/2025. Do Khụt không biết tên, địa chỉ cụ thể của người này nên không có căn cứ để xác minh làm rõ cần chấp nhận. Buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng ma tuý đã thu giữ trong vụ án.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa xin miễn án phí, cần chấp nhận theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về đề nghị của đại diện viện kiểm sát: Đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật, tội danh, hình phạt và các vấn đề khác là phù hợp nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Cầm Văn Kh phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Cầm Văn Kh 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2025

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) Phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành đã được niêm phong kín. Trong phong bì gồm: 01 túi nilon màu vàng xanh chứa vật chứng ký hiệu L = 0,74 gam là Methamphetamine và 01 vỏ phong bì thư niêm phong ban đầu đã bóc mở.

(Mô tả chi tiết theo Quyết định chuyển vật chứng của Viện kiểm sát nhân dân huyện SM ; Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện SM và cơ quan Thi hành án dân sự huyện SM ).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016: Miễn nộp Án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14 tháng 5 năm 2025).

Cỡ chữ