- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN, CON CHUNG D- D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Kim D.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2025/HNGĐ-ST Ngày: 09-9-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trương Văn Tiên
Bà Nguyễn Thị Nhàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Diệu – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Đà Nẵng tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Mai Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025, về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Võ Thị Kim D, sinh năm 1996;
- Bị đơn: anh Trần Ngọc D, sinh năm 1990;
Cùng địa chỉ: thôn D, xã P, thành phố Đà Nẵng (thôn D, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam cũ).
Chị D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, anh D vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Võ Thị Kim D trình bày:
Chị và anh Trần Ngọc D tự nguyện tìm hiểu, xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam (nay là xã P, thành phố Đà Nẵng). Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, lời qua tiếng lại. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D. Về nuôi con chung, vợ chồng có 01 con chung là Trần Võ Diệu C, sinh ngày 01-10-2013; hiện nay cháu C đang ở với chị. Khi ly hôn chị D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành, chị đi làm có công việc thu nhập ổn định, có chỗ ở, đủ điều kiện nuôi con, từ trước đến nay chị là người trực tiếp chăm sóc con; chị không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung khi ly hôn. Về tài sản chung và nợ chung, vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung và chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên toà chị D vắng mặt có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Ngọc D không đến tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa theo thông báo của Tòa án và không có ý kiến hay lời trình bày gì đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị D.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng. Đương sự là bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án, căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị D về hôn nhân và con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Chị Võ Thị Kim D xin ly hôn với anh Trần Ngọc D, hiện anh D cư trú tại thôn D, xã P, thành phố Đà Nẵng; căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyết giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Đà Nẵng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị D.
Bị đơn anh Trần Ngọc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh D.
Về nội dung vụ án:
2.1. Về hôn nhân:
Chị Võ Thị Kim D và anh Trần Ngọc D tự nguyện tìm hiểu và xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam vào năm 2014 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Xét tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị D và anh D thì thấy: chị D trình bày chị và anh D chung sống được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm; Đến nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần thông báo mở phiên họp hoà giải để vợ chồng chị D và anh D hàn gắn tình cảm, nhưng anh D không đến tham gia; anh D cũng không có ý kiến gì về vấn đề hôn nhân của anh chị, chứng tỏ anh không quan tâm và không có thiện chí để hàn gắn, xây dựng hạnh phúc gia đình. Qua xác minh nơi chị D, anh D sinh sống, Hội liên hiệp Phụ nữ xã T không có thông tin gì về tình trạng hôn nhân giữa anh chị.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị D và anh D đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của chị D là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
2.2. Về nuôi con chung: chị D và anh D có 01 con chung là Trần Võ Diệu C, sinh ngày 01-10-2013. Khi ly hôn chị D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Qua các buổi làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa, anh D vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu gì của anh về vấn đề con chung.
Xét thấy, chị D có công việc thu nhập ổn định và có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu C khi ly hôn. Hiện cháu C đang ở với chị D và phát triển bình thường. Cháu C đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng ở với mẹ. Như vậy, việc giao cháu C cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng khi ly hôn là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị D.
Chị D không yêu cầu giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2.3. Về chia tài sản và về nợ chung: Chị D không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Kim D.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Kim D ly hôn với anh Trần Ngọc D.
2. Về nuôi con chung:
Giao con chung là Trần Võ Diệu C, sinh ngày 01-10-2013 cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh D không cấp dưỡng nuôi con chung khi ly hôn.
Anh D có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về chia tài sản và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị D phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị D đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0018144, ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Quảng Nam Nam (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7, thành phố Đà Nẵng). Chị D đã nộp xong tiền án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - UBND xã P; - VKSND khu vực 7 – Đà Nẵng; - TAND thành phố Đà Nẵng; - THADS thành phố Đà Nẵng; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (ĐÃ KÝ) Nguyễn Thị Quân |