- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Hằng yêu cầu ly hôn với anh Kiệt"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2025/HNGĐ-ST Ngày 03-4-2025. V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Tiến Dũng;
2. Ông Nguyễn Lộc .
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hữu Xuân Lộc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Đinh Quốc Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 384/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024, về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1999.
Địa chỉ: Thôn X, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.
2. Bị đơn: Anh Phan Tuấn K, sinh năm: 1999.
Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.
(Chị H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh K vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại Đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 11 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
+ Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Phan Tuấn K tự nguyện tìm hiểu, được gia đình hai bên đồng ý và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Bình Định vào ngày 29/11/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ngày trầm trọng. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là do bất đồng quan điểm trong công việc và cuộc sống, anh K không chí thú làm ăn chăm lo hạnh phúc gia đình mà cờ bạc làm phát tán tài sản của gia đình. Chị H và anh K sống ly thân từ tháng 8/2024 cho đến nay. Chị Nguyễn Thị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng trầm trọng kéo dài nhưng không có biện pháp để hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với anh Phan Tuấn K.
+ Về con chung: Có 01 người con chung là Phan Nguyễn Thiên K1, sinh ngày 25/5/2023. Hiện nay, người con chung sức khoẻ bình thường và đang sống với chị H. Ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý người con chung và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 09/01/2025, bị đơn anh Phan Tuấn K trình bày:
+ Về hôn nhân: Về thời gian, điều kiện kết hôn của vợ chồng, anh Phan Tuấn K thống nhất như lời trình bày của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H.
Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn của vợ chồng là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống; vợ chồng sống ly thân từ tháng 8/2024 cho đến nay. Anh Phan Tuấn K nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng không còn có khả năng hàn gắn, nên đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị H.
+ Về con chung: Có 01 người con chung là Phan Nguyễn Thiên K1, sinh ngày 25/5/2023. Ly hôn, giao người con chung cho chị H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý người con chung và anh K không phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị H giữ nguyên ý kiến và yêu cầu nêu trên.
Bị đơn anh Phan Tuấn K vắng mặt không có lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đối với nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn thực hiện không đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp “Ly hôn” và bị đơn cư trú tại huyện P, tỉnh Bình Định nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định theo quy định của khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định về việc giải quyết vụ án:
- Về hôn nhân: Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Phan Tuấn K.
- Về con chung: Căn cứ vào khoản 2 Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Giao người con chung là Phan Nguyễn Thiên K1, sinh ngày 25/5/2023 cho chị Nguyễn Thị H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quản lý.
+ Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị H về việc không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Phan Tuấn K đều không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí , lệ phí Tòa án số : 0004298 ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Chị H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân sơ thẩm;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vu ̣ kiện “Ly hôn” và người bị kiện cư trú tại huyện P, tỉnh Bình Định. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vu ̣ kiện thuô ̣c thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt; bị đơn anh Phan Tuấn K đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn chị Nguyễn Thị H và bị đơn anh Phan Tuấn K.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Phan Tuấn K kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Bình Định vào ngày 29/11/2022. Lời trình bày của chị H và anh K phù hợp với tài liệu, chứng cứ do chị H giao nộp kèm theo Đơn khởi kiện là Giấy chứng nhận kết hôn số: 83/2022, ngày đăng ký 29/11/2022 của Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Bình Định cấp cho Nguyễn Thị H và Phan Tuấn K (Bản chính). Nên hôn nhân của chị H và anh K là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Chị H và anh K xác định thống nhất nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là bất đồng quan điểm trong công việc và cuộc sống; vợ chồng sống ly thân từ tháng 8/2024 cho đến nay. Chị H và anh K đều cho rằng mâu thuẫn của vợ chồng trầm trọng kéo dài nhưng không có biện pháp để hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị H yêu cầu Toà án cho ly hôn với anh K, anh K đồng ý ly hôn với chị H.
Xét hôn nhân giữa chị H và anh K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu có duy trì cũng không đem lại kết quả. Điều này phù hợp với thực tế và phù hợp với kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh K, chị H. Do đó, chấp nhận cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Phan Tuấn K là có căn cứ, phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Có 01 người con chung là Phan Nguyễn Thiên K1, sinh ngày 25/5/2023. Lời trình bày của chị H và anh K phù hợp tài liệu, chứng cứ do chị H giao nộp kèm theo đơn khởi kiện là Giấy khai sinh của Phan Nguyễn Thiên K1, sinh ngày 25/5/2023 (Bản chứng thực).
Chị H và anh K đều xác định hiện nay người con chung đang sống với chị H. Ly hôn, chị H và anh K thống nhất giao người con chung cho chị H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quản lý.
Xét yêu cầu nuôi con chung của chị H là chính đáng, phù hợp với ý kiến của anh K và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên được chấp nhận là giao người con chung là Phan Nguyễn Thiên K1 cho chị Nguyễn Thị H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quản lý.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu anh Phan Tuấn K cấp dưỡng nuôi con, nên không xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bên kia. Khi cần thiết chị H, anh K có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Phan Tuấn K đều không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số : 0004298 ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Chị H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.
Về đề nghị của Kiểm sát viên hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; các điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Phan Tuấn K.
2. Về con chung: Có 01 người con Phan Nguyễn Thiên K1, sinh ngày 25/5/2023.
2.1. Giao người con chung là Phan Nguyễn Thiên K1 cho chị Nguyễn Thị H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quản lý cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
2.2. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
2.3. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bên kia. Khi cần thiết chị H, anh K có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Phan Tuấn K đều không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghin) đồng án phi sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án
̀
́ phí mà chị H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí , lệ phí Tòa án số : 0004298 ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Chị H đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H và anh Phan Tuấn K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND tỉnh Bình Định; - VKSND H.Phù Mỹ; - Các đương sự; - THADS H.Phù Mỹ; - UBND xã Mỹ An; - Lưu VP- HSVA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bá Tùng |