vanban.org

Bản án 95/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Ô Môn, TP. Cần Thơ Tuyên án 27/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn A 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN Ô MÔN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/HSST
Ngày: 27-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Lê Thị Thu Nguyệt

2/ Ông Ngô Minh Thi

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thạnh Hưng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 104/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn A, sinh ngày 24 tháng 12 năm 1996 tại Cần Thơ.

Nơi cư trú: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hưng T, sinh năm 1970 (chết) và bà Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1974 (sống); vợ: Trần Minh T1, sinh năm 2004; Con: 01 người, sinh năm 2024; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt theo Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 24/10/2024, chuyển tạm giam từ 02/11/2024 tại Nhà tạm giữ Công an quận Ô, thành phố Cần Thơ.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến: Ông Lê Trường H, sinh năm 1993. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Qua tin báo của quần chúng nhân dân, đối tượng Nguyễn Văn A có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 24/10/2024, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Ô kết hợp Công an phường T tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của A tại khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Qua khám xét thu giữ 01 (một) gói nilong hàn kín bên trong chứa các hạt tinh thể không màu nghi là ma túy được thu giữ trong sọt nhựa màu xanh treo trên vách tủ ở gần bếp nấu ăn cùng một số vật dụng liên quan đến việc sử dụng ma túy, sau đó đưa A về làm việc.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn A thừa nhận: A bắt đầu sử dụng ma túy vào năm 2021, vào khoảng 23 giờ ngày 23/10/2024 A mua 01 (một) gói ma túy của người tên T2 (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) đem về nhà để trong sọt nhựa màu xanh treo trên vách tủ ở gần bếp nấu ăn nhằm mục đích sử dụng thì bị lực lượng Công an khám xét thu giữ. Việc A sử dụng ma túy gia đình không biết và việc mua ma túy là từ tiền riêng của A, không có ai hùn tiền mua ma túy sử dụng chung. Qua kiểm tra, A dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 356/KL-KTHS ngày 31/10/2024 của Phòng K Công an thành phố C kết luận: Tinh thể trong gói nilong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,8280 gam.

Đối với đối tượng bán ma túy cho A, do không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên không tiến hành xác minh làm việc được. Đề nghị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ô tiếp tục xác minh, đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Vật chứng: 01 (một) gói niêm phong số 356/KL-KTHS ngày 31/10/2024 của Phòng K Công an thành phố C, bên ngoài gói niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an thành phố C, chữ ký cán bộ niêm phong Mai Quốc P và chữ ký người chứng kiến Đặng Thúy H1; 01 (một) chai nhựa trên chai có chữ AQUAFINA, nắp chai màu trắng có khoét hai lỗ tròn và gắn một đoạn ống thủy tinh có một đầu bị bể, đã qua sử dụng; 01 (một) nỏ thủy tinh, chưa qua sử dụng; 01 (một) quẹt gas màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) quẹt gas màu xanh hư phần đầu, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động vỏ màu xanh có ghi chữ Samsung, số EMEI1: 351577119493957/01, số EMEI2: 351578119493955/01, loại máy A10S, đã qua sử dụng; 01 (một) bao thư niêm phong chứa đĩa ghi hình hỏi cung bị can (chuyển cùng hồ sơ vụ án).

Tại Cáo trạng số 04/CT-VKSOM ngày 11/12/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân quận Ô Môn để xét xử Nguyễn Văn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trong cáo trạng. Qua đó, có phân tích về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, về nhân thân cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo mức án từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng áp dụng: Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong số 356/KL-KTHS ngày 31/10/2024 của Phòng K Công an thành phố C, bên ngoài gói niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an thành phố C, chữ ký cán bộ niêm phong Mai Quốc P và chữ ký người chứng kiến Đặng Thúy H1; 01 (một) chai nhựa trên chai có chữ AQUAFINA, nắp chai màu trắng có khoét hai lỗ tròn và gắn một đoạn ống thủy tinh có một đầu bị bể, đã qua sử dụng; 01 (một) nỏ thủy tinh, chưa qua sử dụng; 01 (một) quẹt gas màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) quẹt gas màu xanh hư phần đầu, đã qua sử dụng.

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động vỏ màu xanh có ghi chữ Samsung, số EMEI1: 351577119493957/01, số EMEI2: 351578119493955/01 loại máy A10S, đã qua sử dụng.

+ Tịch thu lưu hồ sơ: 01 (một) bao thư niêm phong chứa đĩa ghi hình hỏi cung bị can (chuyển cùng hồ sơ vụ án).

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Ô, điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; của Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn, Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về căn cứ kết tội: Lời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa; Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can tại cơ quan điều tra; Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm ngày 24/10/2024; Biên bản khám xét ngày 24/10/2024; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 24/10/2024; Biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định ngày 24/10/2024; Kết luận giám định số 356/KL-KTHS ngày 31/10/2024 của Phòng K Công an thành phố C; Các biên bản ghi lời khai và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,8280 gam, loại Methamphetamine, do bị cáo mua về cất giấu trong sọt nhựa màu xanh treo trên vách tủ ở gần bếp nấu ăn trong nhà nhằm mục đích sử dụng, điều này cho thấy bị cáo phạm tội do lỗi cố ý. Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Ma túy là hiểm họa lớn của toàn nhân loại, đã trực tiếp hủy hoại cuộc sống của hàng triệu con người và là mối đe dọa lớn đối với đời sống xã hội, đất nước. Nhà nước đã có chế tài nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại và hậu quả của việc tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo vì muốn thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên đã vi phạm pháp luật.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ. Đồng thời, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, để răn đe bị cáo, góp phần đấu tranh phòng chống loại tội phạm ma túy, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, sống đặt mình trong khuôn khổ pháp luật.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa thể hiện bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét tình tiết này để cân nhắc hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Để tạo điều kiện thuận lợi cho bị cáo khi chấp hành án nên không phạt bổ sung như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án: Theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Đối với người tên T2 bán ma túy cho bị cáo, bị cáo khai không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ô không xác minh được. Do đó, kiến nghị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ô tiếp tục xác minh làm rõ, khi có đủ cơ sở xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Nguyễn Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn A 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/10/2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong số 356/KL-KTHS ngày 31/10/2024 của Phòng K Công an thành phố C, có chữ ký cán bộ niêm phong Mai Quốc P và chữ ký người chứng kiến Đặng Thúy H1; 01 (một) chai nhựa trên chai có chữ AQUAFINA, nắp chai màu trắng có khoét hai lỗ tròn và gắn một đoạn ống thủy tinh có một đầu bị bể, đã qua sử dụng; 01 (một) nỏ thủy tinh, chưa qua sử dụng; 01 (một) quẹt gas màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) quẹt gas màu xanh hư phần đầu, đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động vỏ màu xanh có ghi chữ Samsung, số EMEI1: 351577119493957/01, số EMEI2: 351578119493955/01, loại máy A10S, đã qua sử dụng.

(Vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12/12/2024 của Công an quận Ô)

- Tịch thu lưu hồ sơ: 01 (một) bao thư niêm phong chứa đĩa ghi âm, ghi hình hỏi cung bị cáo ngày 05/12/2024 (chuyển cùng hồ sơ vụ án).

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án, để xin Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ