- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc A.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09/4/2024 V/v tranh chấp “Xin Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO - TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Hồng.
Các Hội thẩm nhân nhân dân: 1. Ông Trương Hoàng Hoa.
2. Bà Lê Thị Ngọc Ánh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Ái Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Thanh - KSV.
Ngày 09 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 533/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp “Xin Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 21/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20/3/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang.
* Bị đơn: Nguyễn Thành B, sinh năm 1981 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp M1, phường N1, TP Y, Tỉnh Đồng Nai
Địa chỉ tạm trú: ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn ly hôn, bản tự khai và biên bản hòa giải, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc A trình bày:
Chị và anh B cưới nhau vào năm 2010 do tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện X, theo số 78 năm 2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến tháng 8/2023 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, anh B cờ bạc, không quan tâm gia đình, ai cũng có cuộc sống riêng, không phụ chăm sóc nuôi con nên thường xuyên tranh cãi. Chị A đã cố gắn hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không được, chị và anh B đã sống ly thân vào cuối năm 2023. Nay chị A thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên xin ly hôn với anh B.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Trọng C, sinh ngày 17/8/2011 và Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 18/11/2014. Chị A yêu cầu được nuôi 02 con chung, yêu cầu anh B cấp dưỡng mỗi con chung là 1.000.000 đồng x 02 con = 2.000.000 đồng.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
* Đối với bị đơn là anh Nguyễn Thành B từ khi Toà án thụ lý đến nay anh B vắng mặt không có lý do và không gởi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị A.
* Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Ngọc A có đơn xin vắng mặt vẫn giữ y yêu cầu khởi kiện cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thành B.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Trọng C, sinh ngày 17/8/2011 và Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 18/11/2014. Chị yêu cầu được nuôi 02 con chung, yêu cầu anh B cấp dưỡng 2.000.000 đồng/2 con chung.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến phát biểu: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân chị A, anh B mâu thuẩn trầm trọng, sống ly thân từ cuối năm 2023 nhưng không thể hàn gắn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị A được ly hôn với anh B.
+ Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Trọng C, sinh ngày 17/8/2011 và Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 18/11/2014. Con chung đang sống với chị A và có nguyện vọng sống cùng chị, do đó để con phát triển tốt nên cấn giao 02 con chung cho chị A tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.
+Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Thành B cấp dưỡng hàng tháng là 2.000.000 đồng/02 con chung. Bắt đầu cấp dưỡng từ tháng 5/2024.
+ Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
+ Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Căn cứ vào yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ngọc A về việc tranh chấp “ly hôn” với anh Nguyễn Thành B thuộc trường hợp được qui định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36 và điểm b, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.
Về hôn nhân: Qua lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Chị A và anh B cưới nhau vào năm 2010 do tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, theo số 78, ngày 19/9/2011. Sau khi kết hôn anh B, chị A sống hạnh phúc, sau đó đến giữa năm 2023 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, anh B không quan tâm gia đình, không phụ nuôi con cái dẫn đến thường xuyên lớn tiếng tranh cải. Chị đã cố gắn hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không được. Anh chị sống ly thân từ tháng 8/2023 đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, tình cảm không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh B. Đồng thời, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh B nhưng anh vẫn không đến tham dự phiên tòa và không có ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị A, điều đó chứng tỏ anh B không có ý muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử xác định, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị A, anh B đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị A là phù hợp với qui định của pháp luật do đó Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Trọng C, sinh ngày 17/8/2011 và Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 18/11/2014. Hai con chung Trọng C, D có nguyện vọng được sống cùng chị A, do đó để con có cuộc sống ổn định, phát triển tốt nên cần giao 02 con chung cho chị A tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng
Về cấp dưỡng: Anh B phải cấp dưỡng hàng tháng là 2.000.000 đồng/2 con chung đến khi con chung tròn đủ 18 tuổi lao động được. Bắt đầu cấp dưỡng từ tháng 5/2024.
Về tài sản chung: không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Không có.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Anh Nguyễn Thành B phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Từ những nhận định trên và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân phát biểu quan điểm là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36; điểm b, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 56, Đều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về áp dụng án phí, lệ phí.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc A.
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc A được ly hôn với anh Nguyễn Thành B.
2. Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Trọng C, sinh ngày 17/8/2011 và Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 18/11/2014.
Giao hai con chung Trọng C, D cho chị A được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Thành B phải cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng là 2.000.000 đồng/2 con chung đến khi con chung tròn đủ 18 tuổi, lao động được.
Không ai được quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn.
3. Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
*Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0007043 ngày 23/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang nên chị đã nộp xong.
Anh Nguyễn Thành B phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án, các đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -TAND Tỉnh TG; -VKSNDHCG-TG -Chi cục THADSHCG; -Những người tham gia tố tụng; -Lưu. | Nguyễn Thị Ánh Hồng |