- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức D và đồng phạm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Các bị cáo Trần Đình D và Đàm Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. LIÊN CHIỂU-TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2023/HSST Ngày: 14/9/2023 s |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Nguyễn Thi Thi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Chi
Bà Huỳnh Thị Lệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phƣơng Thùy – Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2023/HSST ngày 17 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:
1/ Trần Đức D (D Cò, Vũ), sinh ngày 10/8/1996; Nơi cư trú: Tổ 42 phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Anh Văn và bà Nguyễn Thị Tho; Có vợ là Trương Thị Thu Th và 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 16/4/2013 bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 03 năm tù về tội Cướp tài sản. Ngày 19/01/2015, bị can Trần Đức D đã chấp hành xong hình phạt và án phí của bản án này. Đến nay đã được xóa án tích theo điểm b khoản 2 Điều 70 BLHS.
- Ngày 12/8/2016 bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 25/4/2017, bị can Trần Đức D đã chấp hành xong Quyết định này.
- Ngày 07/4/2019 bị Đồn biên phòng Hải Vân, BCH Bộ đội biên phòng thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 10/4/2019, bị can Trần Đức D đã chấp hành Quyết định xử phạt này.
- Ngày 09/12/2022 bị Công an quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Bị can chưa chấp hành quyết định này.
Bị cáo bị bắt tạm giam vào ngày 17/11/2022. Có mặt.
2/ Đàm Văn Q, sinh ngày 28/01/1991; Nơi cư trú: K454/33 Tôn Đức Thắng, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đàm Văn Cầu và bà Nguyễn Thị L; Có 01 con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 19/7/2021 bị Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi Xâm hại đến sức khỏe của người khác. Ngày 02/7/2021, bị can Đàm Văn Q đã chấp hành xong quyết định này.
- Ngày 09/12/2022 bị Công an quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Hiện bị can chưa chấp hành quyết định này.
Bị cáo bị bắt tạm giam vào ngày 17/11/2022. Có mặt.
3/ Trƣơng Thị Thu Th, sinh ngày 10/02/1994; Nơi cư trú: Thôn Vân Dương 1, xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trương Văn Thanh và bà Ngô Thị Hai; Có chồng là Trần Đức D và 02 con sinh năm 2014 và 2019; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam vào ngày 17/11/2022. Có mặt.
* Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đặng Thị Thu V, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ 03 phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Bà Đàm Thị Thu Th, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ 23 phường Thanh Khê Tây, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1967; Địa chỉ: 454/33 Tôn Đức Thắng, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11h20 ngày 17/11/2022, tại nhà của Trần Đức D thuộc tổ 42, phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, Đội Cảnh sát điều tra phòng, chống tội phạm về ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu phối hợp với Công an phường Hòa Hiệp Nam tiến hành kiểm tra hành chính và phát hiện bắt quả tang Trần Đức D và vợ là Trương Thị Thu Th có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tang vật thu giữ: tại phòng khách, trên kệ sách có 01 vỏ bao thuốc lá, bên ngoài ghi chữ WHITE HORSE, bên trong có 12 gói nylon kích thước 02x02cm chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma túy; trên tủ đựng áo quần ở phòng khách có 01 hộp giấy màu đỏ, bên trong có 02 cân tiểu ly và 20 bao nylon rỗng kích thước 02x02cm; trên tủ đựng quần áo trong phòng ngủ có 02 gói nylon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma túy (I).
Tiến hành khám xét khẩn cấp tại địa chỉ nêu trên, Cơ quan điều tra tiếp tục thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ gắn sim số 0705.369.373 của Trần Đức D và 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xám gắn sim số 0905.879.464 của Trương Thị Thu Th (II).
Điều tra ban đầu, D khai nhận số ma túy bị thu giữ nêu trên D nhờ người tên Quý mua giúp. Từ lời khai của D, đến 18h30 cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đàm Văn Q. Cơ quan điều tra đã thu giữ của Đàm Văn Q: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh (không có nắp phía sau) gắn sim số 0768.437.929 và 01 xe máy hiệu Atila BKS 43H1-030.50 (III).
Ngày 09/12/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng ban hành Kết luận giám định số 16/KLMT-KTHS xác định: Tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A, B gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng tinh thể: mẫu A: 0,134 gam, mẫu B: 1,539 gam.
Quá trình điều tra, từ lời khai nhận của Trần Đức D, Đàm Văn Q, Trương Thị Thu Th và các chứng cứ thu giữ xác định:
Là đối tượng nghiện ma túy, biết có nhiều người muốn mua ma túy để sử dụng nên D đã nảy sinh ý định bán ma túy để kiếm tiền tiêu xài và có ma túy chênh lệch để sử dụng. D bắt đầu bán ma túy từ ngày 09/11/2022, nguồn ma túy do D mua của Đàm Văn Q, Quý mua của đối tượng tên “Ry” (chưa xác định nhân thân lai lịch), loại ma túy đá. Mỗi lần D mua ma túy của Quý, D đều chuyển khoản tiền trước cho Quý, nếu dư tiền thì Quý trả lại và Quý hưởng lợi bằng ma túy do D trả, D đã mua ma túy của Quý 3 lần, cụ thể:
- Ngày 09/11/2022, D gọi điện nhờ Quý lấy giúp 2,5 gam ma túy đá với giá 2.500.000 đồng. D sử dụng tài khoản momo số 0905.879.464 chuyển khoản đến tài khoản momo số 0768.437.929 của Quý số tiền 3.000.000 đồng. Quý sử dụng tài khoản momo của mình chuyển đến tài khoản momo số 0935.474.343 của “Ry” số tiền 2.500.000 đồng để mua ma túy, vì còn thừa 500.000 đồng nên Quý trả lại cho D. Sau khi chuyển tiền cho “Ry” thì Quý đi đến khu vực quanh bờ hồ Hàm Nghi, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, tại địa điểm mà “Ry” thông báo để lấy ma túy về giao lại cho D. Sau khi nhận ma túy từ Quý, D cho Quý một ít ma túy để sử dụng, phần còn lại D sử dụng hết.
- Ngày 12/11/2022, D lại tiếp tục nhờ Quý mua ma túy giúp. Quý tiếp tục liên hệ với “Ry” để mua tiếp 2,5 gam ma túy đá. D chuyển khoản qua momo cho Quý số tiền 3.000.000 đồng. Quý chuyển đến tài khoản momo của “Ry” số tiền 2.500.000 đồng, còn 500.000 đồng thì Quý trả lại cho D. Sau đó, “Ry” chỉ chỗ lấy ma túy ở khu vực gần bờ hồ Hàm Nghi, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Quý đến lấy và đem về giao lại cho D, Quý được D cho một ít ma túy để sử dụng. Số ma túy còn lại, D tiếp tục chia nhỏ để sử dụng và bán lại cho con nghiện. D đã bán tổng cộng được 03 lần cho 03 người, mỗi lần 300.000 đồng. Người mua ma túy liên lạc với D theo số điện thoại 0705.369.373, D không nhớ số điện thoại của người mua.
- Đến ngày 16/11/2022, D tiếp tục liên hệ nhờ Quý mua ma túy. Quý liên hệ với “Ry” để mua 2,5 gam ma túy đá. Tuy nhiên trước đó, vào ngày 14/11/2022, do cần tiền tiêu xài nên Quý đã đem điện thoại hiệu Iphone 6 của mình cầm cố cho “D” (chưa xác định được lai lịch) lấy số tiền 500.000 đồng, rồi Quý lấy điện thoại cục gạch lắp sim 0768.437.929 để sử dụng. Do đó, Quý không còn tài khoản momo để chuyển tiền nên Quý đã nói D chuyển khoản tiền mua ma túy đến tài khoản momo số 0935.474.343 của “Ry”. D đến điểm nạp tiền momo trên đường Nguyễn Lương Bằng (địa chỉ cụ thể D không nhớ) và nạp vào tài khoản số 0935.474.343 của “Ry” số tiền 2.500.000 đồng. Sau đó, Quý đến khu vực bờ hồ Hàm Nghi, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng lấy ma túy tại điểm mà “Ry” báo cho Quý rồi đem về giao cho D. Lần này, D cũng cho Quý một ít ma túy để sử dụng. Số ma túy còn lại D sử dụng cân tiểu ly và bao nylon đặt mua trên Lazada chia thành 14 gói, mục đích để bán. D bỏ 14 gói ma túy vào vỏ bao thuốc lá bên ngoài có dòng chữ “WHITE HORSE” rồi đem cất trên kệ sách ở phòng khách.
Trương Thị Thu Th là vợ của D, Thảo biết rõ D là đối tượng nghiện ma túy nhưng hoàn toàn không biết việc D bán ma túy. D mua ma túy, phân chia ma túy và bán ma túy trong những thời điểm Thảo không có ở nhà hoặc đang ngủ. Đến chiều ngày 16/11/2022, khi D đi vắng, Thảo dọn nhà và phát hiện 01 vỏ bao thuốc lá để trên kệ sách, Thảo mở ra và thấy bên trong có ma túy. Trong quá trình sinh sống, Thảo từng bị D đánh nên Thảo lo sợ D sử dụng ma túy nhiều sẽ dễ nổi nóng và đánh Thảo. Vì vậy, khi thấy số ma túy trên, Thảo đã lấy 02 gói trong vỏ bao thuốc lá đem đến cất giấu ở trên tủ quần áo trong phòng ngủ để D không sử dụng được nhiều. Đến 11h20 ngày 17/11/2022, D chưa kịp bán số ma túy này thì đã bị Công an kiểm tra hành chính, phát hiện và bắt quả tang như đã nêu ở trên.
Xử lý vật chứng: Đối với xe máy hiệu Atila màu đen BKS 43H1-030.50, xe này thuộc quyền sở hữu của chị Đặng Thị Thu V. Khi cho mượn xe, chị Vân không biết việc Đàm Văn Q sử dụng để mua ma túy. Do đó, ngày 11/01/2023, Cơ quan điều tra trả 01 xe máy hiệu Atila màu đen BKS 43H1-030.50 cho chị Đặng Thị Thu V (Sinh năm 1988, trú tại tổ 03, phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng) là có cơ sở.
Các vật chứng còn lại thu giữ tại các mục (I), (II), (III) sẽ được chuyển qua Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu để tạm giữ, chờ xử lý sau.
Với nội dung trên tại Bản cáo trạng số: 94/CT-VKS ngày 16/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Trần Đình D, Đàm Văn Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 và bị cáo Trương Thị Thu Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung Cáo trạng. Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như về nhân thân của từng bị cáo, qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Đình D mức án từ 08 năm 06 tháng - 09 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Đàm Văn Q mức án từ 08 năm - 09 năm về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung mỗi bị cáo số tiền từ 10.000.000đ – 20.000.000đ.
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trương Thị Thu Th mức án từ 12 tháng - 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:
* Tịch thu tiêu hủy:
- Mẫu hoàn trả sau giám định số 16/KLMT-KTHS ngày 09/12/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an TP Đà Nẵng;
- 20 bao nylon rỗng, 02 cân tiểu ly màu trắng, 01 hộp giấy màu đỏ.
- Sim số 0768.437.929; sim số 0705.369.373.
* Tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh (không có nắp phía sau) của bị cáo Đàm Văn Q; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ của bị cáo Trần Đức D.
* Trả lại cho bị cáo Trương Thị Phương Th: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xám gắn sim số 0905.879.464.
Toàn bộ vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án Dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/6/2023.
Tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng;Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Đức D, Đàm Văn Q, Trương Thị Thu Th: Qua xem xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa; quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Trần Đức D bắt đầu thực hiện hành vi mua bán ma túy trên địa bàn quận Liên Chiểu từ ngày 09/11/2022, đến 11h20 ngày 17/11/2022 thì bị Đội Cảnh sát điều tra phòng, chống tội phạm về ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu phối hợp với Công an phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang, thu giữ 1,673 gam ma túy Methamphetamine mà D chưa kịp bán. Trước đó D đã bán ma túy 03 lần cho 03 người, D chưa kịp hưởng lợi bằng tiền mà chỉ hưởng chênh lệch ma túy để sử dụng. Nguồn ma túy này do D mua của Đàm Văn Q, Quý có 03 lần bán ma túy cho D để hưởng lợi bằng ma túy do D trả. Nguồn ma túy Quý mua của đối tượng tên “Ry” tại khu vực Bờ hồ Hàm Nghi, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Hành vi của D và Quý đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Trương Thị Thu Th có hành vi cất giấu 0,134 gam Methamphetamine nhằm mục đích hạn chế việc chồng là Trần Đức D sử dụng ma túy.
Hành vi trên của các bị cáo Trần Đức D, Đàm Văn Q đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015 và bị cáo Trương Thị Thu Th đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:
Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, các bị cáo Trần Đức D và Đàm Văn Q có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân là các con nghiện lâu năm nên biết rất rõ các tác hại mà ma túy mang lại, biết rõ ma túy là loại độc dược do Nhà nước độc quyền quản lý, vì vậy nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển…trái phép các chất ma túy dưới bất cứ hình thức nào thế nhưng vẫn bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Số ma túy thu giữ của bị cáo D là 1,673 gam ma túy Methamphetamine chưa kịp bán. Trước đó D đã bán ma túy 03 lần cho 03 người. Nguồn ma túy này do D mua của Đàm Văn Q, Quý cũng đã có 03 lần bán ma túy cho D để hưởng lợi bằng ma túy do D trả. Hành vi phạm tội của tất cả các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ, chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, gây nên những hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và lan tràn tệ nạn xã hội, đồng thời còn là nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác.
Trong vụ án này, các bị cáo D và Qúy đều có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử và và xử lý vi phạm hành chính nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần phải xử phạt một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo mới đủ tính răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với Trương Thị Thu Th, bị cáo biết bị cáo D là con nghiện lâu năm, bản thân đã từng bị D đánh nhiều lần nên lo sợ D sử dụng ma túy nhiều sẽ dễ nổi nóng và đánh Thảo. Vì vậy, khi thấy số ma túy trên, Thảo đã lấy 02 gói trong vỏ bao thuốc lá đem đến cất giấu ở trên tủ quần áo trong phòng ngủ để D không sử dụng được nhiều. Xuất phát từ sự thiếu hiểu biết của bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Số ma túy bị cáo cất giấu là 0,134 gam Methamphetamine.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ông ngoại bị cáo Qúy là Liệt sỹ, có con nhỏ; Bị cáo Thảo có con là Nguyễn Quỳnh Vy (Sinh năm 2014) là trẻ em bị khuyết tật, loại: vận động – nghe nhìn, mức độ: đặc biệt nặng không ai chăm sóc; gia đình bị cáo có họ hàng là liệt sĩ, có hoàn cảnh khó khăn, hiện đang nuôi con nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Trần Đức D và Đàm Văn Q, mỗi bị cáo số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:
* Tịch thu tiêu hủy:
- Mẫu hoàn trả sau giám định số 16/KLMT-KTHS ngày 09/12/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an TP Đà Nẵng;
- 20 bao nylon rỗng, 02 cân tiểu ly màu trắng, 01 hộp giấy màu đỏ.
- Sim số 0768.437.929; sim số 0705.369.373.
* Tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh (không có nắp phía sau) của bị cáo Đàm Văn Q; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ của bị cáo Trần Đức D.
* Trả lại cho bị cáo Trương Thị Phương Th: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xám gắn sim số 0905.879.464.
Toàn bộ vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án Dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/6/2023.
Đối với những vấn đề khác trong vụ án, cụ thể:
- Đối với đối tượng tên “Ry” và những người liên quan đến hành vi mua bán, vận chuyển ma túy của D, Quý: đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau là có cơ sở, HĐXX không xem xét.
- Đối với chị Đặng Thị Thu V, chị Đàm Thị Thu Th, bà Đặng Thị Lệ: Quá trình Đàm Văn Q mượn xe máy hiệu Atila BKS 43H1-030.50 để sử dụng vào việc mua ma túy giúp cho Trần Đức D thì bà Lệ, chị Thủy, chị Vân không biết. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có cơ sở, HĐXX không xem xét.
- Đối với hành vi phát hiện và biết 12 gói ma túy còn lại mà Trần Đức D cất giấu trên kệ sách của Trương Thị Thu Th: giữa Trương Thị Thu Th và Trần Đức D là quan hệ vợ chồng hợp pháp theo Giấy đăng ký kết hôn số 15/2020 ngày 17/02/2020 của UBND phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 19 BLHS thì hành vi của Trương Thị Thu Th đối với việc không tố giác 12 gói ma túy là không cấu thành tội Không tố giác tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có cơ sở, HĐXX không xem xét.
. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố:
Các bị cáo Trần Đình D và Đàm Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Bị cáo Trương Thị Thu Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng hình phạt:
- Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Trần Đức D 09 (Chín) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 17/11/2022.
Áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS. Phạt bổ sung bị cáo số tiền: 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
- Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Đàm Văn Q 08 (Tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 17/11/2022.
Áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS. Phạt bổ sung bị cáo số tiền: 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Trương Thị Thu Th 01 (Một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 17/11/2022.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:
* Tịch thu tiêu hủy:
- Mẫu hoàn trả sau giám định số 16/KLMT-KTHS ngày 09/12/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an TP Đà Nẵng;
- 20 bao nylon rỗng, 02 cân tiểu ly màu trắng, 01 hộp giấy màu đỏ.
- Sim số 0768.437.929; sim số 0705.369.373.
* Tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh (không có nắp phía sau) của bị cáo Đàm Văn Q; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ của bị cáo Trần Đức D.
* Trả lại cho bị cáo Trương Thị Phương Th: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xám gắn sim số 0905.879.464.
Toàn bộ vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án Dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/6/2023.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc các bị cáo Trần Đức D, Đàm Văn Q và Trương Thị Thu Th mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND quận Liên Chiểu; - Chi cục THA dân sự quận Liên Chiểu; - Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ tọa phiên toà Trần Nguyễn Thi Thi |