vanban.org

Bản án 95/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 18/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Duy D. về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”

Xử phạt: Lê Duy D. 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ 07/12/2022 đến ngày 16/12/2022. Về trách nhiệm dân sự: Không xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Duy D. "Chiếm giữ trái phép tài sản" - phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản (điều 176 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Duy D. về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 176 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
_____________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2023/HSST
Ngày 18 tháng 05 năm 2023
Về tội: Chiếm giữ trái phép tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Việt Hùng

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Đào Phương Mai

Bà Nguyễn Thị Tâm

- Thư ký phiên tòa:

Ông Phan Đức Minh - Thư ký

- Đại diện VKSND quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:

Ông Quách Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 29/2023/TLST - HS ngày 22 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST - HS ngày 22 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo: Lê Duy D.; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1997; Nơi ĐKHKTT: Số 91 H., phường H., quận Hoàn kiếm, Hà Nội; Chỗ ở: Số 14 tập thể C., phường C., quận Hoàn Kiếm, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Họ và tên cha: Không xác định; Họ và tên mẹ: Lê Tuyết L.; Sinh năm: 1969; Vợ: Nguyễn Khánh M.; Sinh năm 2000; Có 01 con sinh năm 2018; Theo danh chỉ bản số 608, lập ngày 15 tháng 12 năm 2022 thì Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: 01 tiền sự ngoài thời hiệu Quyết định 313/QĐ-TA ngày 19 tháng 8 năm 2016 của Toà án nhân dân quận 12 thành phố Hồ Chí Minh, Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng; Chấp hành xong ngày 20 tháng 8 năm 2017; Tạm giữ: 07/12/2022; Hủy bỏ tạm giữ: 16/12/2022; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên toà).

- Bị hại: Anh Lê Đức Ngh. - sinh năm 1985.

Trú tại: 31 Ng., phường L2., quận Ngô Quyền, Tp Hải Phòng.

- Đại diện theo uỷ quyền: Lê Trung Ngh2. - sinh năm 1982 (anh trai)

Trú tại: 31 Ng., phường L2., quận Ngô Quyền, Tp Hải Phòng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt lại như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 02/12/2022, Lê Duy D. ngồi ăn uống cùng bạn là anh Đỗ Trường S. (Sinh năm: 1995; Trí tại: 12 ngõ 1142 Phố Đ., phường Ng2., quận Ba Đình, Hà Nội) và chị Cổ Thùy D2. (Sinh năm: 1991; Trú tại: 34 tổ 6A Ph., phường Ph., quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) tại khu vực vỉa hè trước cửa 26 Lương Ngọc Quyến, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Khoảng 1 tiếng sau, bạn của D. bỏ đi vệ sinh, D. phát 01 ví da tối màu để trên 01 chiếc ghế màu xanh gần chỗ của D. ngồi. D. không biết của ai nên đã dùng tay trái nhặt chiếc ví và cất giấu vào trong áo khoác. Một lúc sau thì bạn của D. quay lại, D. và bạn ngồi ăn thêm khoảng 1 tiếng thì ra về. Khi về đến nhà D. mở ví ra kiểm tra thì thấy bên trong ví có: 01 chiếc điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng, giấy tờ CCCD của người có tên Hoàng Thị H2., 01 thẻ ngân hàng của người tên Nguyễn Thị Hằng và 14.543.000 đồng. D. lấy 14.500.000 đồng cất vào người còn ví và các tải sản khác để lại tại nhà. Sau đó, D. rủ chị Thùy D2 và anh S. ra khu vực cổng chợ Long Biên uống nước. Khoảng 10 phút sau, thì anh G. - nhân viên quán ăn 26 Lương Ngọc Quyến đi đến chỗ D. hỏi D. có lấy ví của khách ăn tại quán không. Lúc này, D. đã biết chiếc ví mình vừa lấy là tài sản của khách ăn tại quán 26 Lương Ngọc Quyến nhưng nảy sinh lòng tham nên D. trả lời không nhặt được chiếc ví nào.Sau đó, D. được mời về Công an phường Hàng Buồm để làm việc thì D. tiếp tục không thừa nhận hành vi chiếm giữ trái phép tài sản. Sau khi được cam đoan cho về, D. lấy 13.500.000 đồng đi mua thẻ điện thoại để tiền chơi nạp game trên mạng, 1.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân trong số 14.543.000 đồng chiếm đoạt được. Còn lại ví, 02 điện thoại, một số giấy tờ cá nhân và 43.000 đồng. Việc D. nhặt được và chiếm đoạt chiếc ví của anh Ngh., D. không nói cho ai biết, không có ai giúp D. chiếm đoạt tài sản.

Về số tiền trong ví bị chiếm đoạt, anh Ngh. khai bị mất khoảng 47.000.000 đồng tuy nhiên anh Ngh. không có tài liệu gì chứng minh về việc bị mất số tiền trên. Về việc D. khai trong ví có 14.513.000 đồng. anh Ngh. không có ý kiến gì đồng thời từ chối đối chất với D.. Ngày 05/02/2023, anh Ngh. đã nhận bồi thường 14.500.000 đồng và không có yêu cầu gì khác về dân sự.

Ngày 08/01/2023, Cơ quan điều tra trả lại anh Lê Đức Ngh.: 01 ví da tối màu một mặt có logo màu vàng chữ lồng “TH” kích thước 3x9x20 cm bên trong vi có: 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Hoàng Thị H2., 01 thẻ ngân hàng Vietcombank mang tên Nguyễn Thị H3., 01 diện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu vàng, 01 sim điện thoại, 43.000 đồng. Anh Ngh. đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.

Đối với chiếc điện thoại Iphone XR thu giữ của Lê Duy D. không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại cho D..

Bản cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 21 tháng 02 năm 2023, Viện kiểm sát nhận dân quận Hoàn Kiếm đã truy tố Lê Duy D. về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 176 Bộ luật hình sự 2015

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Duy D. khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tham gia phiên tòa luận tội: Qua xét hỏi, thẩm vấn tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Duy D. đã phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 176 Bộ luật hình sự 2015

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 176; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt: Lê Duy D. 06 tháng tù đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 12 tháng đến 20 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận có tội, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 03/12/2022 khu vực vỉa hè trước cửa 26 Lương Ngọc Quyến, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, Lê Duy D. đã có hành vi chiếm giữ trái phép 01 ví da tối màu một mặt có logo màu vàng chữ lồng “TH” kích thước 3x9x20 cm bên trong vi có: 01 diện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu vàng, trị giá 1.200.000 đồng; 14.543.000 đồng và một số giấy tờ của anh Lê Đức Ngh.. Tổng giá trị tài sản bị chiếm giữ trái phép là 15.743.000 đồng. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của Lê Duy D. đã phạm vào tội “ Chiếm giữ trái phép tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 176 của Bộ luật hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng,giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng nhân thân bị cáo đã có 01 tiền sự theo Quyết định 313/QĐ-TA ngày 19 tháng 8 năm 2016 của Toà án nhân dân quận 12, thành phố Hồ Chí Minh, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng; Chấp hành xong ngày 20 tháng 8 năm 2017 nên cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủn sức răn đe vào giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Tuy nhiên, hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Duy D. đã trả lại cho anh Lê Đức Ngh. số tiền 14.543.000 đồng, anh Lê Đức Ngh. không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với 01 ví da tối màu một mặt có logo màu vàng chữ lồng “TH” kích thước 3x9x20 cm bên trong vi có: 01 diện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu vàng, 01 CMND mang tên Hoàng Thị H2.; 01 thẻ ngân hàng Vietcombank mang tên Nguyen Thi H3.; 01 sim điện thoại đã trả lại cho anh Lê Đức Ngh., anh Ngh. không có yêu cầu gì nên không xét.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Duy D. về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 176; điểm b, s, i khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Lê Duy D. 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ 07/12/2022 đến ngày 16/12/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Không xét.

Án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, gỉam, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ