vanban.org

Bản án 95/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 08/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn H 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ đi thời hạn bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/5/2023 đến ngày 11/5/2023 là 06 ngày, thời gian còn lại buộc bị cáo phải chấp hành án là 23 (hai mươi ba) tháng 24 (hai mươi tư) ngày tù. Về xử lý vật ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thi H phạm tội Tang trữ trái phép ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Đ
TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 95/2023/HS-ST
Ngày 08-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Đức Bản

Bà Đặng Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2023 tại phòng xét xử điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình và phòng xét xử điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh xét xử công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2023/TLST- HS ngày 11 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn H; tên gọi khác: Không, sinh ngày 24 tháng 10 năm 1996 tại Quảng Bình; nơi đăng ký HKTT: Phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; chổ ở trước khi bị bắt: số nhà 145 Hai Bà Trưng, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 09/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V và bà Hoàng Thị N; con có 02 người, lớn sinh năm 2018, nhỏ năm 2023.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 29/6/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh ra Quyết định khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/5/2023 đến ngày 11/5/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và Tạm hoãn xuất cảnh; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh theo một vụ án hình sự khác, có mặt tại Hội trường xét xử điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh theo lệnh trích xuất.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Trung T, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;

2. Anh Bùi Tuấn A, sinh năm 2001, địa chỉ: Tổ dân phố 11, phường, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 04/5/2023, tại trước số nhà 145 đường Hai Bà Trưng thuộc tổ dân phố 4, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Bình phối hợp với Công an thành phố Đ tuần tra kiểm soát trên tuyến đường Hai Bà Trưng, phát hiện Nguyễn H có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra, H tự nguyện giao nộp 01 túi nilon trong suốt bên trong chứa 03 viên nén không rõ hình dạng màu xanh và 01 túi nilon trong suốt bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng được cất giấu bên trong túi xách H đang đeo trên người. H khai nhận toàn bộ số viên nén nói trên là ma túy tổng hợp loại thuốc lắc và chất tinh thể rắn màu trắng là ma túy loại Ketamine của H cất giấu để sử dụng. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của đối tượng tại số nhà 145 đường Hai Bà Trưng thuộc tổ dân phố 4, phường Đồng Phú, Công an thu giữ thêm 01 túi nilon trong suốt bên trong chứa 03 viên nén không rõ hình dạng màu xanh và 01 túi nilon trong suốt bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng, H kkhai nhận mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân.

Về nguồn gốc số ma túy bị phát hiện và thu giữ, Nguyễn H khai nhận: Đối với số ma túy loại Ketamine, vào khoảng 18 giờ ngày 28/4/2023 H sử dụng Facebook “Jolie Nguyen” gọi vào Facebook “Gia Bảo” của người có tên là Nguyễn Trung T, thường gọi là “Abu” để hỏi mua ma túy với giá 1.000.000 đồng. Khoảng 19 giờ cùng ngày, có nam thanh niên tên Bùi Tuấn A đến giao ma túy cho H tại khu vực gần số nhà 145 đường Hai Bà Trưng. Đối với 06 viên ma túy loại MDMA, H khai mua của một nam thanh niên không rõ lý lịch trú tại xã Bảo Ninh, thành phố Đ với giá 500.000 đồng.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trung T và Bùi Tuấn A cùng trú tại thôn Trúc Ly, xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, thu giữ được một số chất ma tuý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Bình đã chuyển Công an huyện Quảng Ninh giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra Công an thành phố Đ đã tiến hành lấy lời khai, đối chất giữa Thành với H, giữa Tuấn A với H nhưng T và Tuấn A không thừa nhận hành vi mua bán và giao ma túy như lời khai của H.

Tại Kết luận giám định số 423/KL-KTHS ngày 10/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Bình đối với số ma tuý thu giữ từ H kết luận: Mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA, khối lượng 1,469 gam; mẫu ký hiệu A3 gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA, khối lượng 1,502 gam; mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng 1,996 gam; mẫu ký hiệu A4 gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,592 gam.

Kết luận giám định xác định số ma túy thu giữ từ Nguyễn H có 02 loại. Căn cứ Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự thì tổng khối lượng các chất ma túy thu giữ của H được xác định như sau:

* Tính tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 02 chất ma tuý loại MDMA và Ketamine so với mức tối thiểu đối với từng chất đó được quy định tại khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự:

- Ma túy loại MDMA có tổng khối lượng: 1,469g + 1,502 = 2,971gam, có tỷ lệ so với mức tối thiểu quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là: (2,971g : 5g) x 100% = 59,42% (2,971 gam so với 5 gam);

- Ma túy loại Ketamine có tổng khối lượng: 1,996g + 0,592 g = 2,588 gam, có tỷ lệ so với mức tối thiểu quy định tại điểm l khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là (2,588g : 20g) x 100% = 12,94% (2,588 gam so với 20 gam);

Cộng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 02 chất ma túy loại MDMA và Ketamine lại với nhau để xác định tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 02 chất ma túy là: 59,42% + 12,94% = 72,36% (thuộc trường hợp dưới 100%).

Như vậy, khối lượng của hai chất ma túy loại MDMA và Ketamine đều dưới mức tối thiểu đối với từng chất đó nên không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 249 mà thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Vật chứng vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đ đã thu giữ:

- 01 phong bì thư đã được niêm phong số 423/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, hoàn trả sau giám định bên trong chứa:

+ 1,288 gam MDMA mẫu ký hiệu A1;

+ 1,713 gam Ketamine mẫu ký hiệu A2;

+ 1,347 gam MDMA mẫu ký hiệu A3;

+ 0,431 gam Ketamine mẫu ký hiệu A4;

+ Toàn bộ vỏ bao gói;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, có số IMEI: 359272536605928 bên trong có sim số 0819.739.696, đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, có số IMEI: 357853680120426 bên trong có sim số 0528.334.543, đã qua sử dụng;

- 01 túi xách màu đen, đã qua sử dụng.

Với hành vi trên, Cáo trạng số 91/CT-VKSĐH-MT ngày 10 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm

Bị cáo Nguyễn H khai nhận diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng đã mô tả và truy tố, không oan. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý nghiêm khắc, nhưng vì không làm chủ được bản thân dẫn đến nghiện ma túy nên đã tàng trữ để sử dụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình giữ nguyên quan đi ể m truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, các điểm n, t khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ trước đó

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; vỏ bao gói; 01 túi xách màu đen, đã qua sử dụng.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, có số IMEI: 359272536605928 bên trong có sim số 0819.739.696, đã qua sử dụng;

- Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, có số IMEI: 357853680120426 bên trong có sim số 0528.334.543, đã qua sử dụng.

Buộc bị cáo phải chị án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn H không tranh luận về tội danh và mức hình phạt, xử lý vật chứng mà Kiểm sát viên đã đề nghị trong bản luận tội. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân thành phố Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên những hành vi, quyết định đã thực hiện là hợp pháp.

- Về sự có mặt của những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa: Tại phiên tòa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án gồm anh Nguyễn Trung Thành, anh Bùi Tuấn Anh đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, xét thấy trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này, tại phiên tòa nếu xét thấy cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố. Việc những người tham gia tố tụng này vắng mặt tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án, căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

. Về hành vi phạm tội và tội danh của bị cáo.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Vào khoảng 21 giờ ngày 04/5/2023, tại số nhà 145 đường Hai Bà Trưng thuộc tổ dân phố 4, phường Đồng Phú, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, Nguyễn H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy gồm 2,971gam MDMA và 2,588 gam Ketamine, nhằm mục đich để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Bình phối hợp với Công an thành phố Đ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám xét; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Bị cáo Nguyễn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng đã truy tố.

. Về tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến khách thể được luật hình sự bảo vệ là chế độ quản lý đặc biệt đối với chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xét xử bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

. các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và quyết định hình phạt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị cáo đã tích cực hợp tác với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Bình phát hiện tội phạm, căn cứ lời khai của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát Công an tỉnh Quảng Bình đã tiến hành điều tra và khởi tố bị can đối với Nguyễn Trung Thành về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo H đang mang thai. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 mà bị cáo được Hội đồng xét xử áp dụng.

Xét quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tóa bị cáo đều thành khẩn khai báo, khai đúng và đầy đủ diễn biến hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội liên quan đến ma túy với số lượng lớn. Xét hành vi, thái độ của bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật, chưa thực sự ăn năn, hối cải nên bị cáo không thỏa mãn điều kiện được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Về nhân thân: Như đã phân tích ở trên, trong thời gian bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn từ Tạm giữ thành Cấm đi khỏi nơi cư trú để phục vụ điều tra. Bị cáo đã không lấy đó làm bài học để bản thân tu dưỡng, có thái độ ăn năn, hối cải với hành vi phạm tội của mình mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội liên quan đến ma túy số lượng lớn. Thể hiện bị cáo quá liều lĩnh, thiếu sự rèn luyện, tu dưỡng, nhân thân xấu.

Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng như đã phân tích ở trên, xét thấy bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, nên cần xử phạt hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt mà điều luật quy định và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo từ bỏ ma túy và cải tạo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn H là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

- Ma túy thuộc Nhà nước quản lý, cấm tàng trữ, lưu hành. 01 túi xách màu đen bị cáo sử dụng để cất dấu ma túy, nay không còn giá trị sử dụng. Vì vậy, cần tịch thu, tiêu hủy: 2,971gam loại MDMA và 2,588 gam loại Ketamine, toàn bộ vỏ bao gói và 01 túi xách màu đen.

- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, có số IMEI: 359272536605928 bên trong có sim số 0819.739.696, đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo sử dụng để phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước;

- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, có số IMEI: 357853680120426 bên trong có sim số 0528.334.543, đã qua sử dụng, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cần trả lại cho bị cáo.

. Liên quan trong vụ án:

Đối với Nguyễn Trung Thành và Bùi Tuấn Anh là những người bị cáo khai đã cung cấp ma túy cho bị cáo. Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra, đối chất nhưng không đủ căn cứ xử lý đối với Thành và Anh trong cùng vụ án này là phù hợp. Căn cứ lời khai của bị cáo H và các chứng cứ thu giữ được Cơ quan điều tra đã tiến hành khởi tố và điều tra Nguyễn Trung Thành theo một vụ án hình sự khác.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình tại phiên tòa là phù hợp cần chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo Nguyễn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; các điểm n, t khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn H 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ đi thời hạn bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/5/2023 đến ngày 11/5/2023 là 06 ngày, thời gian còn lại buộc bị cáo phải chấp hành án là 23 (hai mươi ba) tháng 24 (hai mươi tư) ngày tù.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 phong bì thư đã được niêm phong số 423/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, hoàn trả sau giám định bên trong chứa:

+ 1,288 gam MDMA mẫu ký hiệu A1;

+ 1,713 gam Ketamine mẫu ký hiệu A2;

+ 1,347 gam MDMA mẫu ký hiệu A3;

+ 0,431 gam Ketamine mẫu ký hiệu A4;

+ Toàn bộ vỏ bao gói;

- 01 túi xách màu đen, đã qua sử dụng.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, có số IMEI: 359272536605928, gắn sim số 0819.739.696, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong;

Trả lại cho bị cáo Nguyễn H: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, có số IMEI: 357853680120426, gắn sim số 0528.334.543, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong;

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 29/8/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình)

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Nguyễn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND, VKSND tỉnh Quảng Bình.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND, Công an thành phố Đ.

- Chi cục THADS thành phố Đ.

- Thi hành án phạt tù.

- Người tham gia tố tụng.

- Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

Mai Thị Mỹ Hạnh

Cỡ chữ