- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Chữ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2023/HS-ST Ngày 30-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hồng Đại
Bà Nguyễn Thị Tư.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Tô Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2023 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 166/ TB-TA ngày 26 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, sinh ngày 12 tháng 12 năm 1969 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Số 3 N, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số 5/32/90 T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị T; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: 02 lần bị kết án (đã được xóa án tích): Bản án số 91/HSST ngày 20/7/1988, Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng xử 06 tháng tù nhưng cho hưởng Án treo và 18 tháng thử thách về tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản; Bản án số 18/2019/HSST ngày 07/3/2019, Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng xử 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị bắt tạm giữ từ ngày 21/3/2023 đến ngày 24/3/2023 chuyển tạm giam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 21/3/2023, Công an quận N kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Văn C tại khu vực trước cửa nhà số 87 đường Vạn Mỹ, phường Vạn Mỹ, quận N, thành phố Hải Phòng. Thu giữ trong lòng bàn tay trái của C 01 gói nilon kích thước 01x02 cm bên trong chứa chất bột màu trắng.
Khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Nguyễn Văn C tại số 5/32/90 Trung Lực, Đằng Lâm, Hải An, Hải Phòng không thu giữ đồ vật tài sản gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Kết luận giám định số 274/KL-KTHS(MT) ngày 23/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,18 gam, loại Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn C khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 13 giờ 00 phút ngày 21/3/2023, Nguyễn Văn C một mình đi đến khu vực đường tàu Máy Chai, N, Hải Phòng để tìm mua ma túy Heroine về sử dụng. Tại đây, C mua của 01 người đàn ông không quen biết 200.000 đồng được 01 gói nilon kích thước khoảng 1x2cm, bên trong chứa cục bột màu trắng, là ma túy Heroine. C cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 13 giờ 30 cùng ngày, khi C đi đến khu vực trước cửa nhà số 87 đường Vạn Mỹ, phường Vạn Mỹ, N, Hải Phòng thì bị cơ quan Công an bắt quả tang.
Bản Cáo trạng số 96/CT-VKSNQ ngày 12 tháng 6 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn C như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn C. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong chứa chất ma túy còn lại sau giám định. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như bản cáo trạng truy tố và nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận N. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, biên bản thu giữ tang vật và kết luận giám định thể hiện: Vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 21/3/2023, tại khu vực trước cửa nhà số 87 đường Vạn Mỹ, phường Vạn Mỹ, N, Hải Phòng Công an quận N bắt quả tang Nguyễn Văn C có hành vi cất giấu ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của Nguyễn Văn C đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung hình phạt: Số ma túy thu giữ trên người Nguyễn Văn C qua giám định có khối lượng 0,18 gam là loại Heroin. Vì vậy bị cáo bị xét xử theo khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xét xử nghiêm nhằm mục đích giáo dục và phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn C có hai tiền án đã được xóa án tích về tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Như vậy, bị cáo có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo là đối tượng nghiện ma túy. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo có điều kiện cai nghiện, cải tạo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiến đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm số 274MT/PC09 bên trong chứa ma túy và vỏ bao gói của mẫu vật còn lại sau giám định là vật chứng của vụ án và là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Văn C chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, có căn cứ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn C được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2023.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn C.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm số 274MT/PC09 bên trong chứa ma túy và vỏ bao gói của mẫu vật còn lại sau giám định (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13 tháng 6 năm 2023 giữa Công an quận N và Chi cục Thi hành án dân sự quận N).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc: Bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận N; - Công an quận N; - Chi cục Thi hành án dân sự quận N; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Trại tạm giam thành phố Hải Phòng; - PV 06 Công an thành phố Hải Phòng; - Cơ quan THA hình sự Công an quận N; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Cường |